Phần 2
Chương I
Chương I
Khái quát chung về Tập đoàn kinh tế nhà nước
I.
Khái niệm
về Tập đoàn kinh tế
Ở
Việt nam khái niệm về tập đoàn kinh tế còn sơ khai, trên cơ sở sao chép Mô hình kinh tế
Cheabol , một dạng Tập đoàn kinh tế chủ yếu ở Hàn Quốc.
Cho
đến nay, khái niệm Tập đoàn kinh tế ở Việt Nam vẫn chưa có định nghĩa chính xác
, mà thực chất xung quanh vấn
đề này còn rất nhiều tranh cãi.
Theo thông lệ
chung của Quốc tế thì tập đoàn kinh tế được định nghĩa là: "Tập đoàn (Tiếng anh: Conglomerate) là sự liên kết của hai hay
nhiều tổng công ty có lĩnh vực kinh doanh khác khác nhau tạo thành một cấu trúc
công ty có quy mô quản lý lớn và phức tạp. Ý nghĩa tập đoàn có thể hình dung
như một công ty mẹ và một số (hay nhiều) công ty con cùng bắt tay kinh doanh.
Tập đoàn là một công ty đa ngành, có quy mô rất lớn và thường kinh doanh đa
quốc gia."
Theo Luật
Doanh nghiệp Việt Nam năm
2005 thì tập đoàn kinh tế được xếp là một thành phần trong nhóm công ty, cụ thể
như sau: "Nhóm công ty là tập hợp các
công ty có mối quan hệ gắn bó lâu dài với nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ
thị trường và các dịch vụ kinh doanh khác. Thành phần của nhóm công ty gồm có:
·
Công ty mẹ, công ty con.
·
Tập đoàn kinh tế
·
Các hình thức khác."
Theo định nghĩa
của Viện nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương CIEM thì:
"Khái
niệm tập đoàn kinh tế được hiểu là một tổ hợp lớn các doanh nghiệp có tư cách
pháp nhân hoạt động trong một hay nhiều ngành khác nhau, có quan hệ về vốn, tài
chính, công nghệ, thông tin, đào tạo, nghiên cứu và các liên kết khác xuất phát
từ lợi ích của các bên tham gia. Trong mô hình này, "công ty mẹ" nắm
quyền lãnh đạo, chi phối hoạt động của "công ty con" về tài chính và
chiến lược phát triển."
Còn theo ý
kiến thống nhất của của phần lớn các chuyên gia kinh tế Việt Nam trong các cuộc
hội thảo thì : "Mô
hình tập đoàn là một hình thái tổ chức giữa các doanh nghiệp. Còn nhiều quan
niệm khác nhau về tập đoàn, song cũng có một điểm chung nhất là: Tập đoàn doanh
nghiệp là tổ chức kinh tế có kết cấu tổ chức nhiều cấp, liên kết nhau bằng quan
hệ tài sản và quan hệ hợp tác nhằm đáp ứng đòi hỏi của nền sản xuất hàng hóa;
các doanh nghiệp trong tập đoàn đều có pháp nhân độc lập."
Và
có ý kiến bổ sung thêm: Tập đoàn kinh tế nhà nước là nhóm các công ty, liên kết
chủ yếu dưới hình thức công ty mẹ - công ty con, có từ hai cấp DN trở lên, tạo
thành tổ hợp kinh doanh gắn bó với nhau..
II.
Cơ sở pháp
lý
Tháng 3/1994, Thủ tướng Chính phủ có
quyết định 91/TTg ngày 07/3/1994 thí điểm thành lập tập đoàn kinh doanh. Tuy
nhiên, các tổ chức kinh doanh được hình thành theo quyết định này thời gian đầu
được gọi là tổng công ty 91. Tháng 3/2005, Thủ tướng Việt Nam quyết định thí
điểm hình thành Tập đoàn Bưu chính Viễn Thông Việt
Nam. Từ đó, các
tổng công ty 91 đều được chuyển thành các tập đoàn kinh tế thí điểm. Song, phải
đến tháng 11/2009, Thủ tướng Việt Nam mới có quyết định thí điểm thành lập tập
đoàn kinh tế nhà nước. Mục tiêu thí điểm là:
- Tập trung đầu tư và huy động các nguồn lực hình thành nhóm công ty có quy mô lớn trong các ngành, lĩnh vực then chốt, cần phát triển, nâng cao khả năng cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế.
- Giữ vai trò bảo đảm các cân đối lớn trong nền kinh tế quốc dân; ứng dụng công nghệ cao; tạo động lực phát triển cho các ngành, lĩnh vực khác và toàn bộ nền kinh tế.
- Thúc đẩy liên kết trong chuỗi giá trị gia tăng, phát triển các thành phần kinh tế khác.
- Tăng cường quản lý, giám sát có hiệu quả đối với vốn, tài sản nhà nước đầu tư tại các doanh nghiệp trong tập đoàn.
- Tạo cơ sở để tiếp tục hoàn thiện cơ chế chính sách và pháp luật về tập đoàn kinh tế.
Đến thời điểm trước tháng 10/2011, có 13 tập đoàn kinh tế
nhà nước, gồm:
·
Tập đoàn Bưu
chính Viễn Thông (VNPT), thành
lập tháng 4/2005;
·
Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (Vinacomin),
thành lập tháng 9/2005 với tổ chức ban đầu là Tập đoàn Than Việt Nam, sau đó
thành Vinacomin tháng 01/2006;
·
Tập đoàn phát triển nhà và đô thị Việt Nam (HUD
Holdings);
·
Tập đoàn Công nghiệp Xây dựng Việt Nam (VNIC, Sông Đà);
Tháng 12/2011, Chính phủ tổng kết thí
điểm thành lập các tập đoàn kinh tế. Do Sông Đà và HUD không
đạt được một số mục tiêu đề ra khi thành lập, nên đến tháng 10 năm 2012, Thủ
tướng Việt Nam có quyết định số 1428 ngày 2/10/2012 tổ chức lại hai tập đoàn
này và đưa chúng quay trở lại thành các tổng công ty. Trong khi đó, Vinashin
cũng bị yêu cầu tái cơ cấu.
III.
Sự cần thiết và nhu cầu tất yếu
Do mở cửa hội nhập nên cần phải tổ chức
sắp xếp các doanh nghiệp nhỏ, manh mún thành những doanh nghiệp lớn để đủ khả
năng đối tác cũng như cạnh tranh với doanh nghiệp nước ngoài, tăng cường vị trí
của doanh nghiệp nhà nước trong việc bảo đảm vai trò chủ đạo, dẫn dắt các doanh
nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác hoạt động theo định hướng xã hội chủ
nghĩa, và các tập đoàn hoạt động có hiệu quả sẽ làm nòng cốt trong nền kinh tế
xã hội chủ nghĩa. Do nền kinh tế hội nhập sẽ phải chấp nhận cạnh tranh, cạnh
tranh tất yếu dẫn đến tích tụ và tập trung vốn vì vậy tất yếu sẽ hình thành
doanh nghiệp lớn, tức các tập đoàn kinh tế.
Song khác với các tập đoàn kinh tế thế
giới, hầu hết đều đi từ các các công ty nhỏ, hoạt động rất hiệu quả, tích tụ
vốn và phát triển quy mô dần trở thành các tập đoàn khổng lồ, các tập đoàn kinh
tế Việt Nam được thành lập dựa trên các tổng công ty có quy mô chưa lớn, yếu
kém trong quản lý, quen dựa vào bao cấp đã vừa độc quyền lại thích có thêm
quyền, phần lớn vị trí chủ chốt được bổ nhiệm vì lý do chính trị chứ không dựa
trên năng lực quản trị kinh doanh nên sự tác hại của tập đoàn kinh tế khi làm
ăn thiếu hiệu quả có thể gây tác hại lớn cho nền kinh tế, cần thận trọng trong
việc thành lập.
IV.
Đánh giá
sơ bộ hiệu quả hoạt
động của Tập đoàn kinh tế thời gian qua
1.
Về sử dụng vốn
Tám tập đoàn kinh tế cùng với 96 tổng
công ty, công ty lớn của Nhà nước sở hữu gần 400.000 tỉ đồng, chiếm hầu hết vốn
của Nhà nước có tại các doanh nghiệp nhà nước. Các tập đoàn và tổng công ty
đang nắm giữ 75% tài sản cố định của quốc gia, khoảng 60% tổng tín dụng ngân
hàng trong nước và tổng vốn vay nước ngoài nhưng chỉ tạo ra khoảng 40% tổng sản
phẩm trong nước, tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu của các đơn vị này là
17%, 28,8% thu ngân sách. Tính đến cuối năm 2007, tổng số vốn chủ sở hữu của
các tập đoàn và tổng công ty đã tăng 18%, tổng tài sản tăng 26%.
2.
Về lĩnh
vực đầu tư chính
Tại một hội nghị hồi tháng 4-2008 ở Hà Nội, Bộ Tài chính
cho biết tính đến cuối năm 2007, tổng giá trị đầu tư ra ngoài các lĩnh vực kinh
doanh chính của 70 tập đoàn, tổng công ty nhà nước là gần 117.000 tỉ đồng,
trong đó đầu tư vào lĩnh vực tài chính, ngân hàng và bất động sản là hơn 23.400
tỉ đồng.
3.
Về tình hình công nợ
Có nhiều số liệu khác nhau và nhiều
cách nhìn nhận khác nhau về tỷ lệ nợ vay trên vốn chủ sở hữu của các doanh
nghiệp nhà nước mà các tập đoàn kinh tế nhà nước và các Tổng công ty nhà nước
là các chủ thể chiếm tỷ trọng tuyệt đối về vốn.
Tỷ lệ nợ phải trả 8 tập đoàn kinh tế
cùng với 96 tổng công ty, công ty lớn của Nhà nước lên đến 1,36 lần, tính đến
cuối năm 2007 và nợ của các tập đoàn kinh tế vẫn trong vòng kiểm soát.
Tỷ lệ nợ vay trên vốn chủ sở hữu của
các doanh nghiệp nhà nước rất cao, cá biệt lên đến 42 lần trên vốn của chủ sở
hữu. So với mức tỷ lệ nợ vay trên vốn chủ sở hữu của các tập đoàn kinh tế quốc
tế là chỉ từ 1 đến 3 lần thì tỷ lệ nợ vay/vốn chủ sở hữu của các tập đoàn kinh
tế Việt Nam nếu được công bố sẽ khiến "thế giới phải giật mình",
có đại biểu quốc hội đặt nghi vấn cho rằng nguyên nhân của việc thiếu rõ ràng
trong bảo lãnh tín dụng, độc quyền, khó kiểm soát nợ của doanh nghiệp nhà nước,
các tập đoàn kinh tế, Tổng công ty nhà nước có gốc gác từ lợi ích cục bộ, lợi
ích nhóm.
Hoạt động yếu kém, sử dụng quá nhiều
nguồn lực, được quá nhiều ưu ái, ưu đãi kể cả lúc kinh tế đất nước gặp nhiều
khó khăn, cạnh tranh không bình đẳng, không làm
tròn vai trò nòng cốt của nền kinh tế thậm chí đã trở thành là gánh nặng của
nền kinh tế, lũng đoạn thông qua quan hệ, coi trọng lợi ích nhóm, các tập đoàn
kinh tế được xem là một trong những nguyên nhân gây ra lạm phát cao vào năm
2008.
Có ý kiến so sánh về các tổng công ty
nhà nước như sau:Tập
đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước như những chàng công tử, được cha mẹ (nhà
nước) nuôi dưỡng chu đáo nên béo tốt. Nói chung là nhất về vị thế và ưu đãi,
nhưng hiệu quả hoạt động lại yếu kém
“
|
Chương 2:
Mô hình Cheabol - Mô hình Tập đoàn
kinh tế chủ yếu ở Hàn Quốc
I.
Khái niệm:
Chaebol
là hiện thân của một dạng “câu lạc bộ tài chinh” tập hợp nhiều công ty Hàn Quốc
kinh doanh trên nhiều lĩnh vực kinh tế khác nhau. Các công ty này thuộc quyền
sở hữu của một ít cổ đông và họ thường là xuất thân từ cùng một gia đình với
thành viên sáng lập. Do đó, có thể định nghĩa chung nhất về Chaebol, đó là
những tập đoàn công nghiệp lớn, nhưng lại mang tầm vóc gia đình.
II.
Quá trình hình thành và phát triển:
Sự
hình thành các Chaebol bắt đầu từ sau thế chiến 2, sau khi quân Nhật rút khỏi
năm 1945, một số doanh nhân Hàn Quốc được sở hữu các tài sản của một số doanh
nghiệp Nhật Bản, một vài trong số này đã phát triển thành các Chaebol.
“Chaebol” có nguồn gốc từ chữ Hoa, trong đó “chae” là “sở hữu” và “mumbol” là
“gia đình quyền quý”.
Sau
cuộc chiến tranh Triều Tiên (năm 1950 -1953), Hàn Quốc vẫn là một trong những
quốc gia nghèo nhất trên thế giới. Thu thập đầu người của Hàn Quốc cuối những
năm 50 thấp hơn nhiều so với các nước láng giềng. Giai đoạn 1953 đến 1961 là
thời kỳ khôi phục chiến tranh một cách chậm chạp. Tuy nhiên, đến năm 1962,
Chính phủ Hàn Quốc thông qua nhiều chính sách khuyến khích và hỗ trợ các doanh
nghiệp lớn có sẵn – Chaebol, các Chaebol nhanh chóng phát triển thành các tập
đoàn tầm cỡ thế giới và làm vực dậy nền kinh tế Hàn Quốc. Cuối thập niên 1980,
Chaebol đã chế ngự lĩnh vực công nghiệp và được cho là đã giúp nền kinh tế Hàn
Quốc thoát được cảnh thâm hụt mậu dịch, trở thành nước có thặng dư mậu dịch lớn
kể từ năm 1986. Trong thập niên 1980, các Chaebol bắt đầu “tóm” được nền kinh
tế Hàn Quốc đồng thời mạnh dạn “lấn” ra nước ngoài.
Hiện
nay ở Hàn Quốc có khoảng trên 30 Chaebol lớn nhỏ, nhưng chỉ có khoảng 5 Chaebol
chi phối chủ yếu nền kinh tế Hàn Quốc có thể kể đến là Samsung, Huyndai,
Daewoo.
III. Đặc
điểm và phương thức quản lí:
1.
Đặc điểm:
Chaebol
là một mô hình khác của tập đoàn thuộc sở hữu và điều hành bởi một gia đình.
Các Chaebol của Hàn Quốc thường mang hình thức của một công ty mẹ và có nhiều
công ty con hoạt động để đáp ứng yêu cầu vật tư và dịch vụ của công ty mẹ. Do
đó hầu hết các Chủ tịch hiện tại của các Chaebol đã thành công là cha hoặc ông
nội của họ. Hơn thế, Cheabol nhận được sự ưu đãi đặc biệt của nhà nước và tồn
tại mối quan hệ “thân hữu” giữa Chính phủ với một số doanh nghiệp lớn. Nó có
thể tạo ra sức ép để đưa ra những đạo luật có lợi cho công việc kinh doanh của
họ.
2.
Phương thức quản lí:
Hình
thức quản lý trong nội bộ các Chaebol là các thành viên trong cùng một dòng tộc
kiểm soát và quản lý doanh nghiệp một cách rất tập trung và tập quyền. Đồng
thời, mối dây liên kết giữa các nhân vật lãnh đạo Chaebol với chính quyền đã
giúp họ hoạt động hiệu quả hơn. Và chính những dàn xếp thường xuyên giữa các
Chaebol và Chính phủ Hàn Quốc, nhất là trong lĩnh vực thi hành luật và kiểm
soát thuế, đã khiến sinh ra một hệ thống quản lý tài chính bị mua chuộc ở nhiều
cấp độ khác nhau, đôi khi đến mức độ nghiêm trọng.
Chương
III
Tập đoàn Công nghiệp Xây Dựng Việt Nam
I.
Sự ra đời của Tập đoàn Công nghiệp Xây Dựng Việt Nam
Tập đoàn Sông Đà
là Công ty Mẹ trong Tập Đoàn Công Nghiệp Xây Dựng Việt Nam (VNIC). VNIC là một trong 12 Tập đoàn Kinh tế Nhà nước do Chính phủ
Việt Nam làm chủ sở hữu.
Sự ra đời của Tập
đoàn Công nghiệp Xây dựng Việt Nam (VNIC) trên cơ sở sáu (06) Tổng công ty mạnh
trong lĩnh vực công nghiệp xây dựng gồm: Tổng công ty Sông Đà, Tổng công ty Lắp
máy Việt Nam (Lilama), Tổng công ty Xây dựng và Phát triển Hạ tầng (Licogi),
Tổng công ty Đầu tư – Phát triển Xây dựng (DIC), Tổng công ty Cơ khí Xây dựng
(Coma) và Tổng công ty Sông Hồng, trong đó Tổng công ty Sông Đà giữ vai trò
nòng cốt, đánh dấu một bước phát triển mới, một sự kiện lớn, có ý nghĩa quan
trọng trong lĩnh vực xây lắp ở Việt Nam.
Sự kiện này có ý
nghĩa vô cùng lớn đối với sự phát triển của ngành công nghiệp xây dựng nói
riêng và của đất nước nói chung và là công cụ để Nhà nước triển khai các dự án
trọng điểm của quốc gia có quy mô lớn, bảo đảm việc xây dựng cơ sở vất chất của
đất nước trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Với định hướng chiến lược
trở thành tập đoàn kinh tế mạnh, có quy mô và vốn lớn, công nghệ hiện đại, đa
sở hữu, đa ngành nghề, tập trung vào sáu (06) lĩnh vực chính là xây dựng, lắp
máy, sản xuất công nghiệp, gia công chế tạo máy móc thiết bị, kinh doanh bất
động sản và đầu tư tài chính, VNIC từng bước xây dựng tiến tới hoàn thiện để trở
thành tập đoàn công nghiệp xây dựng hùng mạnh của quốc gia và khu vực, đủ năng
lực cạnh tranh với các tập đoàn nước ngoài trong các lĩnh vực trong điểm.
II.
Quá trình
hình thành và phát triển của Tổng công ty Sông Đà
1.
Hệ thống tổ chức:
- ĐẢNG ỦY TỔNG CÔNG TY
BAN THƯỜNG VỤ ĐẢNG ỦY TỔNG CÔNG TY BAN CHẤP HÀNH ĐẢNG BỘ TỔNG CÔNG TY - HỘI ĐỒNG THÀNH VIÊN TỔNG CÔNG TY HỘI ĐỒNG THÀNH VIÊN TỔNG CÔNG TY - KIỂM SOÁT VIÊN TỔNG CÔNG TY KIỂM SOÁT VIÊN TỔNG CÔNG TY - BAN TỔNG GIÁM ĐỐC TỔNG GIÁM ĐỐC TỔNG CÔNG TY CÁC PHÓ TỔNG GIÁM ĐỐC TỔNG CÔNG TY - CÔNG ĐOÀN TỔNG CÔNG TY BAN THƯỜNG VỤ CÔNG ĐOÀN TỔNG CÔNG TY BAN CHẤP HÀNH CÔNG ĐOÀN TỔNG CÔNG TY - ĐOÀN THANH NIÊN TỔNG CÔNG TY BAN THƯỜNG VỤ ĐOÀN THANH NIÊN TỔNG CÔNG TY BAN CHẤP HÀNH ĐOÀN THANH NIÊN TỔNG CÔNG TY - HỘI LIÊN HIỆP THANH NIÊN TỔNG CÔNG TY BAN THƯ KÝ HỘI LIÊN HIỆP THANH NIÊN TỔNG CÔNG TY ỦY VIÊN ỦY BAN HỘI LIÊN HIỆP THANH NIÊN TỔNG CÔNG TY - CÁC BAN CHỨC NĂNG TỔNG CÔNG TY VĂN PHÒNG TỔNG CÔNG TY BAN TÀI CHÍNH KẾ TOÁN BAN CHIẾN LƯỢC - ĐẦU TƯ BAN QUẢN LÝ KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ BAN CƠ KHÍ THIẾT BỊ BAN TỔ CHỨC NHÂN SỰ BAN KINH TẾ BAN PHÁP CHẾ BAN KIỂM SOÁT NỘI BỘ BAN ĐẤU THẦU BAN CHUẨN BỊ XÂY DỰNG DỰ ÁN ĐIỆN HẠT NHÂN NINH THUẬN BAN QLDA TÁI CẤU TRÚC DOANH NGHIỆP VÀ NÂNG CAO QUẢN TRỊ CÔNG TY
2.
Quá trình phát triển
Tổng công ty Sông Đà ngày nay là kết tinh của một hành trình xây dựng và phát
triển liên tục trong suốt 52 năm gắn liền với sự phát triển của đất nước.
Ngày 01 tháng 6 năm 1961 Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 214/TTg về việc
thành lập Ban chỉ huy công trường thủy điện Thác Bà; Quyết định này đã trở
thành quyết định lịch sử khai sinh ra Tổng công ty, đồng nghĩa với ngành xây
dựng thủy điện Việt Nam ra đời. Bắt đầu từ con số không, chỉ với lòng quyết
tâm thấm đượm tinh thần yêu nước, đã hình thành một công trường công nghiệp
lớn nhất lúc bấy giờ. Hàng ngàn CBCNV đã bất chấp khó khăn, gian khổ, lao
động trong điều kiện thủ công thô sơ, nhưng trong trái tim họ vẫn tràn đầy
niềm tin để thắp sáng một dòng điện đầu tiên cho Tổ quốc. Nhiều CBCNV đã hy
sinh dưới bom đạn Mỹ. Thế hệ tiền bối của Tổng công ty đã để lại tấm gương
sáng cho những người đi sau trân trọng vè những thành quả, công sức đóng góp
vào trang sử vàng của Tổng công ty Sông Đà.
Thủy điện Thác Bà mãi mãi xứng đáng được lưu danh như một biểu tượng của lòng
yêu nước, ý chí kiên cường, tinh thần quả cảm thuộc về những người thợ thủy
điện đầu tiên ở Việt Nam. Đó chính là người thợ Sông Đà.
Khi
công trình thủy điện Thác Bà còn chưa hoàn thành, do yêu cầu của đất nước cần
nhiều nhà máy, xí nghiệp phục vụ dân sinh và quốc phòng, CBCNV Tổng công ty
có mặt kịp thời và đúng lúc tại những miền đất mới. Hàng loạt những công
trình ra đời bởi công sức đóng góp và trí tuệ của tập thể CBCNV Tổng công ty
ngày ấy giờ đây vẫn đang góp phần đắc lực vào công cuộc đổi mới đất nước; Đó
là Nhà máy dệt Minh Phương, Nhà máy giấy Bãi Bằng, đường số 7, sân bay Yên
Bái, Nhà máy hóa chất Việt Trì… Mặc dù liên tục bị phân tán, thiệt hại cả
tính mạng và tài lực do chiến tranh nhưng Tổng công ty vẫn âm thầm xây dựng
và bảo toàn đội ngũ cán bộ, chuyên gia, thợ lành nghề dày dạn kinh nghiệm
chuẩn bị cho những công trình lớn hơn.
Cơ
hội đó đến vào năm 1975 khi nước nhà thống nhất, cũng là lúc Đảng và Chính
phủ tin cậy giao cho Tổng công ty nhiệm vụ rất nặng nề nhưng vô cùng vinh dự.
Đó là: Chinh phục Sông Đà và xây dựng nhà máy thủy điện lớn nhất Đông Nam Á –
Công trình thủy điện Hòa Bình.
Một
trang sử mới của Tổng công ty được mở ra ngay trên vùng đất từng được coi là
“ma thiêng, nước độc”. Tại công trình thế kỷ này hàng vạn CBCNV, đặc
biệt là những người thợ trẻ đã không quản ngày đêm, không quản gian khổ, thời
tiết khắc nghiệt, bất chấp mọi hiểm nguy để làm việc với tinh thần “Tất cả
vì dòng điện ngày mai cho Tổ quốc”. Đây thực sự là thời kỳ mà mỗi khoảnh
khắc sống đều mang trong nó tính sự kiện và giá trị đạo đức. Không thể kể hết
những khó khăn chồng chất cũng như những trở ngại không lường mà tập thể
CBCNV Tổng công ty Sông Đà phải vượt qua để biến giấc mơ từ nghìn đời của
nhân dân thành hiện thực. Cho dù thời gian biến đổi thế nào đi nữa thì công
trình thủy điện Hòa Bình vẫn luôn là tượng đài của tuổi trẻ thế hệ Hồ Chí Minh,
là sự hội tụ giữa trí và lực, là kết tinh của khát vọng, trí thông minh, lòng
dũng cảm, truyền thống ham học hỏi, cầu thị tiến bộ, được nuôi dưỡng từ cội
nguồn văn hóa Việt Nam.
Đất
nước chuyển mình bước sang thời kỳ đổi mới đặt ra trước mắt Tổng công ty
những cơ hội và thách thức lớn. Chúng ta vừa phải nhanh chóng thay đổi công
tác quản lý, tổ chức sản xuất theo hướng gọn nhẹ, năng động để thích nghi,
tồn tại và phát triển trong cơ chế thị trường có sự cạnh tranh gay gắt; đồng
thời vừa phải tìm mọi cách bảo toàn nguồn nhân lực quí giá có nguy cơ bị phân
tán thời kỳ hậu Sông Đà. Để làm được điều đó Tổng công ty đã thực hiện nhiều
phương án phát triển sản xuất tạo công ăn việc làm. Từ việc mở ra các ngành
nghề khác nhau như may mặc, sản xuất vật liệu với 2 nhà máy xi măng công suất
một nhà máy là 8,2 vạn tấn/ năm, sản xuất bao bì, dịch vụ vận tải, xây dựng
dân dụng, xuất khẩu lao động, kể cả tổ chức chăn nuôi… Nỗ lực không mệt mỏi
và kịp thời đó dã giúp Tổng công ty vượt qua giai đoạn khó khăn nhất để củng
cố, xây dựng lực lượng bước vào một thời kỳ mới được đánh dấu bằng việc Đảng
và Chính phủ giao nhiệm vụ làm tổng thầu xây dựng nhà máy thủy điện Yaly trên
Tây Nguyên.
Yaly không chỉ là vùng đất mới của người thợ Sông Đà. Yaly còn là nơi ghi
nhận sự trưởng thành vượt bậc của Tổng công ty mà người thợ Sông Đà có quyền
tự hào. Công trình thủy điện Yaly không chỉ có địa hình, địa chất phức tạp,
thời tiết biến động thất thường mà còn ngổn ngang tàn tích của chiến tranh.
Những người thợ Sông Đà phải đối mặt với sốt rét, bom mìn, chất độc hóa học
và một hạ tầng cơ sở vô cùng nghèo nàn và lạc hậu.
Một
lần nữa người thợ Sông Đà cho thấy bản lĩnh kiên cường và truyền thống đoàn
kết vượt qua mọi khó khăn gian khổ để hoàn thành và hoàn thành xuất sắc nhiệm
vụ mà Đảng và Chính phủ giao cho. Cũng tại công trình thủy điện Yaly trên Tây
Nguyên, những người thợ Sông Đà đã xây dựng thành công Nhà máy thủy điện Yaly
với công suất 720MW mà không phải thuê chuyên gia nước ngoài làm tư vấn,
chúng ta đã chứng minh một cách đầy thuyết phục rằng ngành xây dựng thủy điện
Việt Nam đã thực sự trưởng thành.
Sau
thủy điện Yaly, Tổng công ty tiếp tục góp phần đánh thức tiềm năng Tây Nguyên
và các vùng đất khác trên mọi miền Tổ quốc bằng thế mạnh xây dựng thủy điện
thông qua các hình thức đầu tư BO, BOT như thủy điện Cần Đơn, Ry Ninh 2, Nà
Nơi, Nậm Mu, Sê San 3A, Nậm Chiến… Mặt khác, với kinh nghiệm xây dựng các
công trình thủy điện, Tổng công ty Sông Đà vinh dự được Đảng và Nhà nước giao
làm tổng thầu xây lắp các công trình thủy điện Sê San 3, Sê San 4, Pleikrông,
Tuyên Quang, Bản Vẽ, Hủa Na, Sơn La, Huội Quảng, Lai Châu … Đồng thời, Tổng
công ty còn mạnh dạn đầu tư các dự án thủy điện lớn tại nước Cộng hòa Dân chủ
Nhân dân Lào như Xekaman 3 công suất 250MW, thủy điện Xekaman 1 công suất
330MW. Đây là bước đi đột phá nhằm tạo nên thế mạnh của Tổng công ty Sông Đà.
Đối
với các công trình giao thông, Tổng công ty Sông Đà đã đảm nhận thi công các
công trình: Đường Hồ Chí Minh, Hầm đường bộ qua Đèo ngang, Hầm đường bộ qua
đèo Hải Vân… Tại công trình hầm đường bộ qua đèo Hải Vân, những người thợ
Sông Đà tiếp tục khẳng định phẩm chất đặc biệt của mình. Đây là một công
trình cực kỳ phức tạp về mặt kỹ thuật, xử lý địa chất. Nhiều chuyên gia, nhà
thầu nước ngoài từng bỏ cuộc trước những sự cố địa chất ít gặp ngay cả trong
thi công hầm trên thế giới. Nhưng với tinh thần sáng tạo và bản lĩnh kiên
cường, không khuất phục trước khó khăn đã trở thành truyền thống, người thợ
Sông Đà nhanh chóng tìm ra phương án khắc phục sự cố, vừa đảm bảo tiến độ thi
công và mang lại kết quả kinh tế cao, tiết kiệm cho Nhà nước hàng chục tỉ
đồng. Thành công của người thợ Sông Đà trên công trình hầm Hải Vân đã được
Chủ đầu tư và các chuyên gia tư vấn nước ngoài đánh giá rất cao và thán phục.
Như
vậy, với công nghệ đào hầm tiên tiến, cộng với kinh nghiệm và trí thông minh
người thợ Sông Đà đã làm nên một kỳ tích chinh phục “Đệ nhất ải quan”. Đồng
thời cũng tại công trình hầm Hải Vân, một lần nữa đã minh chứng thêm sức mạnh
của đội ngũ thợ Sông Đà thời đại mới.
Chúng ta tự hào về những thành tựu đạt được. Nhưng để tồn tại và phát triển
chúng ta không được tự kiêu, thỏa mãn với chính mình mà phải ra sức phấn đấu
không ngừng để tiến lên. Tổng công ty đã rút ra bài học sâu sắc đó và sẽ
không có sự lựa chọn nào khác là phải thay đổi cách làm, cách nghĩ. Điều đó
đã được thực hiện và đang cho thấy tính đúng đắn của nó. Có thể nói rằng,
trong suốt chặng đường xây dựng và phát triển của mình, chưa bao giờ Tổng
công ty chủ động phát huy tiềm năng nội tại mạnh mẽ và quyết đoán như giai
đoạn hiện nay. Nguồn lực “Sức mạnh – đoàn kết – trí tuệ - sáng tạo” đã và
đang được đánh thức để phát huy cao độ tính hiệu quả. Những cải tiến mang
tính cách mạng về tổ chức lại sản xuất tạo cho Tổng công ty một vị thế vững
chắc hơn, đưa Tổng công ty từ một đơn vị chuyện nhận thầu xây lắp nay thực sự
trở thành nhà đầu tư lớn trong và ngoài nước; có trong tay đội ngũ kỹ sư, cán
bộ quản lý, thợ lành nghề, thợ bậc cao vào hàng đầu trong ngành xây dựng,
cùng với hệ thống máy móc, thiết bị hiện đại. Tổng công ty sẵn sàng đảm nhận
và thực hiện tốt các nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước giao cho. Một thực tế cho
thấy 70% sản lượng điện của cả nước hiện nay được cung cấp bởi những nhà máy
thủy điện do Tổng công ty Sông Đà xây dựng. Nếu trước đây sản phẩm của Tổng
công ty hầu như chỉ có thủy điện thì nay số ngành nghề đã lên đến vài chục,
trong đó có nhiều lĩnh vực sản xuất, dịch vụ hoàn toàn mới như thép xây dựng,
sân bay, cầu cảng, hợp tác lao động quốc tế… nâng tỉ trọng sản xuất công
nghiệp tăng hơn 30%. Đặc biệt, cùng với sự phát triển sản xuất, lực lượng tư
vấn của Tổng công ty ngày một trưởng thành, đủ sức đảm đương các dịch vụ tư
vấn cho các dự án thủy điện, dân dụng và công nghiệp từ khâu khảo sát, lập báo
cáo nghiên cứu khả thi, thiết kế kỹ thuật đến thiết kế bản vẽ thi công, giám
sát thi công…
Với
hơn 52 năm, thời gian đã ghi nhận những phát triển vượt bậc của Tổng công ty
Sông Đà. Từ một tập thể nhỏ bé, thụ động; ngày mới thành lập vẻn vẹn chỉ gồm
3 kỹ sư thủy lợi, 30 kỹ thuật viên trình độ trung cấp, 40 kỹ thuật viên sơ
cấp, 1 chuyên gia địa chất, 1 trắc đạc và mấy trăm công nhân lao động… Nhưng
ngày nay Tổng công ty Sông Đà đã thực sự lớn mạnh kể cả lượng và chất. Hiện
nay Tổng công ty có đội ngũ CBCNV với gần 28 nghìn người trong đó có hơn 5000
kỹ sư, cán bộ kỹ thuật có kinh nghiệm và trình độ cao. Từ một cơ ngơi gần như
không có gì thời kỳ “hậu Sông Đà”, chỉ sau hơn 10 năm Tổng công ty đã trở
thành một trong những đơn vị có vốn tài sản vào loại lớn trong ngành xây
dựng, có doanh thu hàng năm từ 20.000 – 30.000 tỉ đồng, có tốc độ tăng trưởng
trung bình đạt từ 25 – 35%/năm. Thu nhập của CBCNV trong Tổng công ty không
ngừng được cải thiện, hệ thống phúc lợi xã hội như bảo hiểm, chăm sóc sức khỏe,
vui chơi giải trí, an ninh, giáo dục, đầu tư chiều sâu cho phát triển nguồn
nhân lực chất lượng cao được đầu tư thích đáng và hiệu quả.
Ngày nay, nhắc đến truyền thống vẻ vang của Tổng công ty Sông Đà trước hết
phải nói đến nét truyền thống đặc trưng cớ bản, đó là:
-
Truyền thống lao động dũng cảm, cần cù, thông minh và sáng tạo.
-
Truyền thống trung thực, đoàn kết, thống nhất ý chí và hành động của mọi tập
thể và cá nhân trong từng đơn vị và toàn Tổng công ty. Đây là nguồn gốc cơ
bản để tạo nên sức mạnh của Tổng công ty qua nhiều thế hệ.
-
Truyền thống vẻ vang về tình cảm và sự quan tâm sâu sắc, sự tương thân tương
ái giúp đỡ lẫn nhau, giữa tập thể và cá nhân, giữa mọi CBCNV của Tổng công ty
Sông Đà qua nhiều thế hệ, giữa Tổng công ty Sông Đà với đồng đội và nhân dân
các địa phương trong cả nước.
-
Truyền thống thi đua yêu nước luôn vượt qua mọi khó khăn gian khổ để hoàn
thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.
-
Truyền thống say mê học tập, nghiên cứu, không ngừng vươn lên, nâng cao trình
độ về mọi mặt, làm chủ mọi công nghệ, thiết bị tiên tiến.
Truyền thống đó còn là sự ghi nhớ, lòng biết ơn với những người vì Tổ quốc,
vì sự nghiệp xây dựng đã anh dũng hy sinh. Trên thực tế trong nhiều năm qua,
Tổng công ty đã góp phần chia sẻ khó khăn đối với nhiều địa phương bằng những
việc làm thiết thực như xây dựng trường học tặng con em đồng bào dân tộc các
tỉnh Sơn La, Lai Châu, Cao Bằng, Tuyên Quang, Hòa Bình, Hà Tĩnh, Quảng Ngãi,
Gia Lai, Kon Tum… Đồng thời lập quỹ Sông Đà. Ngoài ra Tổng công ty nhận phụng
dưỡng suốt đời 10 bà mẹ Việt Nam anh hùng.
3.
Thành tích đạt được
Với bề dày của hơn 52 năm lao động không mệt mỏi
của nhiều thế hệ, giờ đây, Tổng công ty Sông Đà có thể tự hào với Bảng vàng
thành tích của mình, được ghi nhận bởi những phần thưởng cao quý của Đảng,
Nhà nước và nhân dân trao tặng:
- Danh hiệu Anh hùng lao động cho 5 tập thể và 7 cá nhân:
+
Tập thể CBCNV Tổng công ty Sông Đà (năm 2004)
+
Tập thể CBCNV Công ty Sông Đà 9 (năm 2000)
+
Tập thể CBCNV Công ty Sông Đà 10 (năm 1998)
+
Tập thể đội khoan giếng Công ty Sông Đà 10 (năm 1998).
+
Tập thể CBCNV Công ty cổ phần Sông Đà 6 (năm 2011)
- 2
Huân chương Hồ Chí Minh cho CBCNV Tổng công ty Sông Đà năm 1994 và năm 2000:
- 3
huân chương Độc lập hạng nhất:
+
Tặng thưởng cho CBCNV Tổng công ty Sông Đà năm 1989
+
Tặng thưởng cho CBCNV Công ty Sông Đà 9 năm 2002
+
Tặng thưởng cho CBCNV Công ty Sông Đà 10 năm 2003
-
Năm Huân chương Độc lập hạng nhì:
+
Tặng thưởng cho CBCNV Tổng công ty Sông Đà năm 1986
+
Tặng thưởng cho CBCNV Công ty Công trình ngầm năm 1995
+
Tặng thưởng cho CBCNV Công ty xây lắp thi công cơ giới năm 1995
+
Tặng thưởng cho Đoàn TNCS HCM Tổng công ty Sông Đà năm 2002
+
Tặng thưởng cho Công đoàn Tổng công ty Sông Đà năm 2008
+
Tặng thưởng cho CBCNV Công ty cổ phần Sông Đà 6 năm 2011
- 7
Huân chương Độc lập Hạng Ba:
+
Tặng thưởng cho CBCNV Công ty Xây lắp thi công cơ giới năm 1989
+
Tặng thưởng cho CBCNV Công ty Công trình ngầm năm 1989
+
Tặng thưởng cho CBCNV Công ty Xây dựng thủy công năm 1995
+
Tặng thưởng cho CBCNV Công ty Sông Đà 2 năm 1995
+
Tặng thưởng cho Đoàn TNCS HCM TCT Xây dựng thủy điện Sông Đà năm 1993
+
Tặng thưởng cho Công đoàn Tổng công ty Sông Đà năm 2002
+
Tặng thưởng cho CBCNV Công ty cổ phần Sông Đà 12 năm 2005
-
Huân chương Lao động hạng Nhất cho 10 tập thể và 10 cá nhân
- Huân chương Lao động hạng Nhì cho 16 tập thể và 20 cá nhân
-
Huân chương Lao động hạng Ba cho 86 tập thể và 155 cá nhân
Nhưng vinh dự luôn đi kèm với trách nhiệm, vinh dự càng lớn thì trách nhiệm
càng nặng nề bởi giờ đây nhiệm vụ và thách thức đòi hỏi CBCNV Tổng công ty
Sông Đà phải nỗ lực phấn đấu hơn nữa. Đó vừa là quy luật tất yếu của sự phát
triển đồng thời cũng là danh dự, phẩm giá của mỗi Tập thể, cá nhân. Vì vậy
những người thợ Sông Đà phải nhận thức sâu sắc trong mọi suy nghĩ và hành
động của mình để góp phần xứng đáng vào sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại
hóa đất nước, vì sự phồn vinh của Tổ quốc Việt Nam giàu đẹp.
|
III.
So sánh các mô hình Tập đoàn kinh tế ở Việt Nam và Hàn Quốc
1.
Đặc điểm chung:
Hầu
hết mô hình TĐKT nhà nước của Việt Nam hiện nay giống với Chaebol Hàn Quốc
trong thời kỳ 1960 – 1980, được Nhà nước hỗ trợ thông qua các chính sách ưu đãi
về vốn. Các tập đoàn được ưu tiên tiếp cận vốn tín dụng. Ngân sách nhà nước có
một khoản đầu tư hỗ trợ các tập đoàn, TCT và DNNN với số tiền tăng lên hằng
năm. Chính phủ cũng đứng ra bảo lãnh cho tập đoàn đi vay nợ với lý do để thực
hiện nhiệm vụ do Nhà nước đặt hàng.
Với
sự ưu đãi như vậy, các tập đoàn đã trở thành những lực lượng mạnh chi phối các
ngành kinh tế chủ lực của Việt Nam. Một số lĩnh vực đã có tiến bộ vượt bậc
trong thời gian ngắn, như viễn thông, dầu khí, đóng tàu biển.
Song
chính phủ chưa có cơ chế giám sát chặt chẽ đối với hoạt động của các tập đoàn.
Những điều đó dẫn đến hậu quả tương tự như đã xảy ra đối với các Chaebol trong
những năm 90: các tập đoàn vay nợ lớn để mở rộng quy mô, đầu tư dàn trải vào
nhiều lĩnh vực, nhiều ngành nghề, phát triển các hoạt động ngoài ngành nghề chính,
độc quyền và có khả năng lũng đoạn thị trường, quản lý kém gây thất thoát vốn,
kinh doanh thua lỗ, v.v…
Hậu
quả xấu không tránh khỏi là một số tập đoàn nhà nước làm ăn không hiệu quả,
thậm chí đứng trên bờ vực phá sản. Vinashin là trường hợp điển hình của việc
lặp lại những thất bại mà các Chaebol Hàn Quốc đã trải qua.
Nhưng
các TĐKT tư nhân Việt Nam hiện nay lại giống với các Cheabol về phương thức
quản lý: đều tồn tại phương thức quản lý gia đình dẫn đến những quyết định mang
tính chủ quan.
2.
Đặc điểm riêng:
Có
thể nói, các TĐKT nhà nước và tư nhân của Việt Nam hiện nay giống như là sự
phân tách mô hình Cheabol của Hàn Quốc.
Khác
với Chaebol, các TĐKT của Việt Nam hầu hết thuộc sở hữu nhà nước. Mặt khác, các
TĐKT thế giới, hầu hết đều đi từ các các công ty nhỏ, hoạt động hiệu quả, tích
tụ vốn và phát triển quy mô dần trở thành các tập đoàn khổng lồ. Nhưng ở Việt
Nam các tập đoàn được thành lập dựa trên các quyết định hành chính, tập hợp
nhiều DN thuộc cùng một lĩnh vực để trở thành một nhóm DN lớn bao gồm công ty
mẹ và các công ty con, với hy vọng sẽ là những DN mạnh, đóng vai trò chủ đạo
trong nền kinh tế quốc dân và sẽ đủ sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Lãnh đạo của các tập đoàn do Chính phủ bổ nhiệm và về thực chất họ là những
công chức chính phủ, có nghĩa vụ tuân theo những kế hoạch và chỉ đạo của Chính
phủ về định hướng phát triển ngành.
Thực
tế, các mô hình Cheabol không theo bất cứ lý thuyết quản trị kinh doanh nào.
Các tập đoàn này không tuân thủ các nguyên tắc như tập trung vào các lĩnh vực
kinh doanh chủ chốt, thuê mướn các nguồn ngoài,… mà đa dạng hóa kinh doanh theo
nhiều phương hướng khác nhau và đang dần chiếm lĩnh thị trường thế giới. Như ta
biết, 3 tập đoàn khổng lồ của Hàn Quốc là Huyndai, LG, Samsung đã rất thành
công và hiện chiếm tới 40% tổng thu nhập quốc dân Hàn Quốc. Trong khi đó, trong
các doanh nghiệp nhà nước của Việt Nam có 12 tập đoàn kinh tế nhà nước nhưng
mức đóng góp rất thấp.
Điều
này cho thấy các tập đoàn nhà nước của chúng ta hoạt động rất kém hiệu quả và
đã không phát huy được lợi thế được ưu đãi và hỗ trợ lớn của Chính phủ.
Trước
đây, các “Chaebol” chủ yếu là bắt chước và thường chạy theo các bậc đàn anh.
Hiện thời, các “Chaebol” đang vượt lên dẫn đầu. Các tập đoàn lớn của Hàn Quốc
không còn bị động chạy theo xu thế hiện hành mà đang tìm cách tạo ra xu thế
mới. Trong khi các TĐKT Việt Nam lại đang loay hay giải quyết các vấn đề về sở
hữu, cơ cấu, đầu tư và sử dụng nguồn vốn.
Về
lĩnh vực hoạt động, hầu hết các Cheabol hoạt động trong lĩnh vực chế tạo, hàng
công nghệ và điện tử. Còn các các TĐKT Việt Nam thì nắm giữ các lĩnh vực chủ
chốt của nhà nước như khai tác khoáng sản, chế biến dầu, điện,…
Còn
đối với TĐKT tư nhân Việt Nam, thì đi đúng theo quy luật thế giới là dựa trên
cơ sở tích tụ, phát triển về qui mô, vốn và do nhu cầu ngoại và nội lực để mở
rộng mà không có bất cứ quyết định hành chính hay sự hỗ trợ về vốn, ngành nghề
cũng như về chính sách của nhà nước. Vì thế cho dù đã phát triển và tồn tại
trên thị trường nhưng các TĐKT này vẫn chưa được thừa nhận bởi luật của Việt
Nam. Tuy nhiên cũng có nhiều tập đoàn có những thành công đáng kể như Hoàng Anh
Gia Lai.
3.
Bài học kinh nghiệm và hướng phát triển cho Việt Nam:
Cheabol
là mô hình đã tạo ra những thành công đáng kinh ngạc của Hàn Quốc. Nó đã nhanh
chóng phát triển thành các tập đoàn lớn trên thị trường thế giới. Các nguyên
nhân chính tạo nên sự thành công là:
Thứ nhất,
các Cheabol nhận được sự ưu đãi của nhà nước, chỉ thị các ngân hàng nhà nước
cung cấp vốn vay ưu đãi với lãi suất thấp. Đồng thời thực hiện việc giám sát
tài chính đối với các khoản nợ ưu đãi. Với chủ trương nhà nước gánh bớt rủi ro
tài chính để các Cheabol yên tâm phát triển kinh tế, chính phủ bảo lãnh việc
trả nợ trong trường hợp công ty không thể thanh toán khoản vay tín dụng nước
ngoài. Chính phủ cũng giảm thuế đánh vào các Cheabol.
Thứ hai,
các Cheabol có chiến lược tiếp cận công nghệ mới một cách có hiệu quả.
Thứ ba,
các Cheabol đã phát triển trong bối cảnh thị trường trong nước và thế giới
tương đối thuận lợi.
Thứ tư,
trong những năm 60 – 70, Hàn Quốc có lợi thế về nhân lực, có đội ngũ lao động
trẻ cần cù sang tạo có nghị lực.
Thứ năm,
mặc dù các Cheabol bị Chính phủ định hướng hoạt động theo mục tiêu quốc gia
nhưng chúng đã không bị ràng buộc với những mục tiêu xã hội khác ngoài kinh doanh
tạo việc làm, chống thất nghiệp.
Mặc
dù, Cheabol đã giúp chuyển đổi nền kinh tế Hàn Quốc trong thời kì công nghiệp
hóa hướng về xuất khẩu. Tuy nhiên các Cheabol là nguyên nhân khủng hoảng tài
chính năm 1997 – 1998 ở Hàn Quốc. Đó là do chính sách ưu đãi kéo dài quá lâu
của Chính phủ đối với chúng và do bản than cơ cấu tổ chức quản lý của các
Cheabol. Cụ thể là:
Một là,
mối quan hệ “thân hữu” giữa Chính phủ với một DN lớn làm méo mó các thước đo
hiệu quả kinh doanh, không có hệ thống giám sát chẽ chẽ. Nên các tập đoàn đã
vay đầu tư tràn lan trong có những dự án sinh lợi kém. Cơ chế quản lí kiểu gia
đình tạo điều kiện để những quyết định đầu tư mang nhiều tính chủ quan, thiếu
sự nghiên cứu kĩ lượng và giám sát chặt chẽ.
Hai là,
các Cheabol đã chạy theo việc bành trướng và đầu tư vào nhiều lĩnh vực, mà
không tập trung sức mạnh vào một số lĩnh vực chính. Sự dàn trải lực lượng như
vậy không chỉ gây ảnh hưởng tới lĩnh vực chính, mà còn là nguyên nhân của tình
trạng quản lý kém ở nhiều lĩnh vực được mở rộng.
Ba là,
quá trình công nghiệp hóa do Cheabol dẫn đầu đã đẩy sự tập trung vốn và các
hoạt động mang lại lợi ích kinh tế vào tay một số lượng giới hạn các Cheabol.
Sự phát triển quá mạnh và mối liên kết chặt chẽ của chúng đối với Chính phủ gây
nên sức ép để tạo ra những đạo luật có lợi cho công việc kinh doanh hoặc nhằm
kiếm nhiều lợi cho nhóm thân hữu của mình hơn là phục vụ các lợi ích công.
Bốn là,
xét trên góc độ quản lý, thì cấu trúc sở hữu không thích hợp với việc quản trị
một doanh nghiệp lớn. Một gia đình nắm quyền kiểm soát toàn bộ Cheabol không để
các nhân tố độc lập kể cả các cổ đông nhỏ, nhà nước hoặc các thành viên khác
trong gia tộc có tiếng nói trong việc quyết định kế hoạch chiến lược lựa chọn
dự án và lĩnh vực đầu tư.
Năm là,
các hiện tượng mua chuộc, hối lộ và tham nhũng đã phát triển nhanh tại Hàn Quốc
do nạn quan liêu trong quá trình xây dựng các cơ chế quản lý kinh tế của Chính
phủ. Như trường hợp của Samsung, Huyndai và Daewoo. Đây là “tam trụ” của kinh
tế Hàn Quốc.
Từ
những nhận xét và đánh giá trên, chúng ta có những định hướng để phát triển
TĐKT Việt Nam. Để xây dựng và phát triển các TĐKT thì chủ yếu thực hiện các
giải pháp về chính sách, cơ chế và quy định mang tính pháp lý mang tính hỗ trợ,
tạo môi trường để các DN tự nguyện phát triển thành TĐKT theo hướng tạo ra sự
rõ ràng về trách nhiệm pháp lý, tăng quyền tự chủ của DN, giảm thiểu sự can
thiệp của nhà nước, đảm bảo thực hiện các cam kết về cải cách kinh tế mang tính
thị trường, về đổi mới DNNN, đổi mới mô hình quản trị doanh nghiệp, vấn đề sở
hữu, chống độc quyền của DN,… những giải pháp đó được cụ thể hoá sau:
-
Trước mắt cần có chính sách riêng đối với các TCT được lựa chọn phát thành TĐKT
như chính sách về quan hệ sở hữu, quản lý và phân phối giữa nhà nước và tập
đoàn.
-
Chính sách thuế, cơ chế bảo lãnh tín dụng tập đoàn cùng với các chính sách có
tính chất hỗ trợ khác (không phải là trợ cấp, bao cấp) cho sự phát triển TĐKT.
-
Đẩy nhanh cổ phần hoá và đa dạng hoá sở hữu DNNN.
-
Phát triển thị trường chứng khoán, thúc đẩy liên kết kinh doanh giữa các DN lớn
với các DN vừa và nhỏ, DNNN với DN tư nhân, DN trong nước với DN nước ngoài.
-
Hoàn thiện tổ chức và thể chế cũng tạo điều kiện cho việc thực hiện các chính
sách trên và cho hoạt động của tập đoàn. Đó là thực hiện cơ chế một đầu mối
thực hiện chức năng chủ sở hữu Nhà nước đối với phần vốn nhà nước tại công ty
mẹ tập đoàn. Bên cạnh đó là việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về công ty tài
chính, trong đó có hướng dẫn cụ thể về công ty tài chính của TĐKT.
-
Xây dựng một TĐKT phù hợp với điều kiện cụ thể từng nghành, vùng và lĩnh vực
kinh tế, cũng như khả năng thực tế của mỗi TCT được chuyển đổi, bởi vì việc xác
định phù hợp với từng nghành, từng vùng đó sẽ đem lại hiệu quả, tức sẽ hình
thành một TĐKT đáp ứng yêu cầu của nhà nước đó là hình thành một TĐKT mạnh.
-
Tăng cường quản trị công ty mẹ, nâng cao vai trò của các cổ đông nhà nước.
-
Cần phải có đội ngũ cán bộ quản lý, điều hành thực sự có năng lực, trình độ
cao, phong cách lãnh đạo và phẩm chất đạo đức tốt, để quản lý điều hành bộ máy
tập đoàn hoạt động có hiệu quả.
Như
trường hợp của Vinashin cho thấy các biện pháp định hướng phát triển là cần
thiết, không chỉ là tái cấu trúc các công ty lớn mà còn phải đi kèm với việc
thiết lập một hệ thống thể chế hoàn chỉnh và các công cụ chính sách hữu hiệu,
trong đó kiểm tra, giám sát hoạt động của các DN lớn và quản lý theo những tiêu
chuẩn hiện đại là những yếu tố không thể thiếu nhằm bảo đảm cho DN hoạt động có
hiệu quả trong môi trường kinh tế toàn cầu hóa. Những biện pháp mà chính phủ
Hàn Quốc áp dụng để tái cấu trúc các Chaebol cũng nên được tham khảo và áp dụng
đối với các tập đoàn và DN lớn của Việt Nam.
Chương V. Mô hình quản
lý định hướng quá trình
Gần
đây, các chuyên gia tư vấn về quản trị thường nói đến cách tiếp cận quá trình
trong hệ thống quản lý doanh nghiệp. Vậy lợi điểm của mô hình quản lý này là
gì? Liệu nó có thể giúp doanh nghiệp tăng lợi thế cạnh tranh ngay lập tức so
với các mô hình quản lý truyền thống hay không?
Nguyên
tắc tổ chức quản lý theo mô hình truyền thống hay còn gọi cách tiếp cận theo
hàng dọc là chuyên môn hóa dựa trên chức năng các phòng ban, bộ phận trong công
ty và tối ưu hóa việc sử dụng nguồn lực. Trong mô hình này các trưởng bộ phận
kiểm soát nắm rất chắc công việc của phòng, ban mình cũng như các nhân
viên hiểu rất sâu về công việc mình đảm trách. Và như vậy chúng ta sử dụng tối
ưu các nguồn lực của tổ chức.
Còn
nguyên tắc tổ chức mới, đang được áp dụng rộng rãi tại Tây Âu và Bắc Mỹ hay còn
gọi là cách tiếp cận theo hàng ngang, là thông qua các quá trình kinh doanh và
chú trọng vào giá trị cung cấp cho khách hàng cũng như giảm tới mức thấp nhất
thời gian sản xuất.
Theo
nguyên tắc mới này, mọi hoạt động của công ty đều được xem như các quá trình,
trong đó quá trình kinh doanh là chủ đạo, còn các quá trình khác sẽ cung cấp sự
lãnh đạo cùng các nguồn lực cần thiết cho quá trình kinh doanh. Đây cũng chính
là điểm chung giữa nguyên tắc tổ chức mới và hệ thống quản lý chất lượng ISO
9001 phiên bản 2000: thông qua các quá trình và nhắm tới giá trị cao nhất cho
khách hàng, hay nói theo ngôn ngữ của ISO là mọi hoạt động trong công ty phải
luôn định hướng tới khách hàng.
Ở
đây có thể xuất hiện câu hỏi, vậy theo nguyên tắc thiết kế tổ chức mới (theo
hàng ngang) sẽ không còn chú trọng đến chuyên môn hóa và tối ưu các nguồn lực
nữa hay sao? Nếu như vậy có lãng phí các nguồn lực của doanh nghiệp không?
Những
ưu điểm của cách tiếp cận theo hàng ngang
Để
có thể tiếp cận theo hàng ngang với các tương tác ngang và tương tác chéo giữa
các bộ phận nghiệp vụ của các phòng ban, yêu cầu đối với từng vị trí sẽ rất
cao. Nhân viên không chỉ phải nắm vững chuyên môn chính mà còn phải hiểu biết
về công việc các bộ phận khác cùng tương tác với mình.
Chương VI. Các mô hình quản trị doanh nghiệp
Mô hình quản
lý theo chiều ngang là cách một doanh nghiệp thiết kế cơ cấu tổ chức của mình
để đồng thời thực hiện 3 chức năng: thực hiện nhiệm vụ của tổ chức; chia nhỏ
các công việc theo vị trí làm việc, phòng, ban, bộ phận, công ty con để triển
khai thực hiện; và thiết kế mối quan hệ quản lý để đảm bảo công việc thực hiện
theo cách phù hợp với chiến lược của doanh nghiệp. Có nhiều cách khác nhau để
doanh nghiệp tổ chức và thực hiện các hoạt động kinh doanh quốc tế trên cơ sở
chức năng, mô hình doanh nghiệp, khu vực địa lý hoặc kết hợp cả ba nội
dung đó. Tuy nhiên, thông thường, các công ty đa quốc gia sử dụng 5 mô hình để
tổ chức các hoạt động kinh doanh của mình: mô hình theo chức năng, mô hình theo
bộ phận và mô hình ma trận.
Mô hình theo chức năng (functional structure): mô hình
theo chức năng là cách thức tổ chức công việc của doanh nghiệp khi sản
phẩm của doanh nghiệp có cùng công nghệ và các áp lực cạnh tranh phải theo
đuổi chiến lược toàn cầu. Mô hình chức năng cho phép doanh nghiệp tối đa hóa
được lợi ích theo quy mô thông qua việc sắp xếp trách nhiệm công việc và các
thiết kế hiệu quả nhất các quan hệ quản lý trong doanh nghiệp. Vì vậy, mô
hình này cho phép thành lập các bộ phận riêng biệt tập hợp nhân sự theo chức
năng truyền thống của doanh nghiệp nhưng ở các khu vực địa lý khác nhau, tại đó
nhân viên sản xuất làm việc với nhân viên sản xuất, nhân viên bán hàng làm việc
với nhân viên bán hàng, nhân viên tài chính làm việc với nhân viên tài chính,
v.v (Xem Hình 4.7).
Mô hình theo chức
năng thường được các doanh nghiệp có dải hàng hóa hẹp trong đó phương
pháp sản xuất và marketing thường không khác nhau nhiều, và thị trường không
thường xuyên thay đổi nhiều. Ví dụ, những công ty khai thác dầu hay khoáng sản
như Total hay British Petroleum thường sử dụng mô hình tổ chức này.
Tuy nhiên, nhược
điểm của mô hình này là doanh nghiệp không thể thích nghi kịp theo các thay đổi
của thị trường đòi hỏi có sự phối hợp giữa nhiều chức năng. Mô hình theo chức
năng thường khó xây dựng được mối quan hệ hiệu quả giữa việc sáng tạo tri thức
với việc ra quyết định nhằm tạo điều kiện cho chức năng marketing phối hợp được
với chức năng sản xuất và chức năng tài chính. Cơ chế quản lý theo chiều dọc
của mô hình theo chức năng là một chuỗi dài mệnh lệnh trải ở nhiều cấp, khiến
cho việc ra quyết định phải dịch chuyển chậm vì thông tin phải trải rộng tới
hầu khắp các cấp bậc cần xử lý thông tin.
Mô hình theo bộ
phận (division structure): Trong khi
mô hình theo chức năng được sử dụng tại các doanh nghiệp chủ yếu gắn với nguyên
liệu đầu vào thì mô hình theo bộ phận được sử dụng gắn với sản phẩm đầu ra. Mỗi
bộ phận trong doanh nghiệp được giao trách nhiệm quản lý một tập hợp hàng hóa
khác nhau hoặc tập hợp những thị trường khác nhau. Trên lý thuyết, một công ty
đa quốc gia có thể có bộ phận phụ trách quốc tế, hoặc có bộ phận phụ trách sản
phẩm trên toàn cầu hoặc bộ phận phụ trách khu vực địa lý trên toàn cầu.
Mô hình bộ phận quốc tế (international division structure): Tập hợp nhóm các hoạt động kinh doanh quốc tế lại vào
một bộ phận, một ban để những nhân sự phụ trách chuyên môn về quốc tế giải
quyết những vấn đề khác nhau như hồ sơ xuất khẩu, giao dịch ngoại hối,
quan hệ với chính phủ nước ngoài … (Xem Hình 4.8.). Mô hình này có khả
năng thích nghi nhanh với những thay đổi của môi trường, cho phép doanh nghiệp
hoạt động trên nhiều thị trường khác nhau. Mô hình này cũng hạn chế những lãng
phí lặp đi lặp lại trong các hoạt động ở nhiều nơi trong tổ chức.
Bộ phận phụ trách
kinh doanh nội địa thường được đánh giá dựa trên hoạt động của bộ phận mình. Do
vậy, các bộ phận này thường duy trì và giữ lại sản phẩm, nhân lực, công nghệ và
các nguồn lực, không khuyến khích tham gia vào hoạt động quốc tế để thúc đẩy
kết quả hoạt động của mình. Một bộ phận quốc tế hoặc phòng, ban phụ trách quốc
tế có thể giải quyết được xu hướng trên nếu doanh nghiệp trang bị cho bộ phận
này nhân lực để khai thác được năng lực của toàn hệ thống.
Các doanh nghiệp
sử dụng mô hình này để khai thác lợi ích theo quy mô thị trường. Qua việc phân
chia bộ phận phụ trách thị trường nội địa, thị trường quốc tế, các doanh nghiệp
thực hiện tốt và phù hợp với việc theo đuổi chiến lược đa quốc gia, trong đó
không phải chịu nhiều sức ép phải hội nhập và tiêu chuẩn hóa giữa thị trường
trong nước và thị trường nước ngoài. Thêm vào đó, giám đốc phụ trách thị trường
quốc tế có thể sử dụng các cách thức như chia sẻ kho vận hay cách thức lập dự
toán để thực hiện phối hợp một số nhất định các quy trình sản xuất hoặc quản lý
trong toàn hệ thống của doanh nghiệp. Mô hình tổ chức này thường được các công
ty đa quốc gia của Châu Âu sử dụng do tính phụ thuộc tương đối vào thị trường
nội địa của các công ty này.
Mô hình bộ phận phụ trách sản phẩm (product division structure): Mô hình phụ trách sản phẩm là một trong những mô
hình phổ biến nhất tại các doanh nghiệp kinh doanh quốc tế hiện nay do hầu hết
các doanh nghiệp này đều có dải hàng hóa đa dạng và khác biệt (Xem Hình 4.9).
Ví dụ, việc sáp nhập giữa công ty Moet Hennessy và Louis Vuitton đã
tạo ra tập đoàn hàng hóa sang trọng lớn nhất thế giới, tập đoàn LVMH, trong đó
những hãng nước hoa Christian Dior, đồng hồ Tag Heuer, đồ túi xách Louis
Vuitton, rượu sâm panh Moet & Chandon là thuộc trong các thương hiệu hàng
hóa của tập đoàn. Việc không có sự tương đồng giữa nhiều dòng sản phẩm đã dẫn
tới việc tập đoàn LVMH chia nhỏ thành 5 bộ phận, mỗi bộ phận tập trung
vào một phân đoạn thị trường riêng biệt trên quy mô toàn cầu, đó là: rượu
và đồ uống có cồn, thời trang và đồ da thuộc, nước hoa và mỹ phẩm, đồng hồ và
trang sức, và hàng bán lẻ khác. Mặc dù có sự lắp lẫn, trùng lặp ở các thị
trường cụ thể, các kênh phân phối, các chuỗi cung ứng nhưng các bộ phận này đều
tương đối độc lập.
Tương tự như mô
hình theo chức năng, mô hình phụ trách sản phẩm được thiết kế phù hợp với chiến
lược toàn cầu do hoạt động ở thị trường nội địa và thị trường nước ngoài đối
với cùng một sản phẩm được một bộ phận phụ trách sản phẩm chịu trách nhiệm. Bộ
phận này có thể kết hợp tương ứng và kinh nghiệm, tri thức giữa hai thị trường
(ví dụ như chia sẻ thông tin về thành công hoặc thất bại trên các thị trường
khác nhau với nhau).
Thêm vào đó, mô
hình phụ trách sản phẩm tăng cường năng lực bán hàng hoặc tung sản phẩm mới
hoặc dừng bán một dòng sản phẩm nhất định vì các dòng sản phẩm là không có liên
hệ với nhau. Tất nhiên, sẽ có các chức năng hoặc hoạt động bị lặp đi lặp lại
giữa các bộ phận phụ trách sản phẩm và cũng khó có cơ hội hay cách nào mà một
bộ phận phụ trách sản phẩm này có thể học tập được kinh nghiệm quốc tế từ một
bộ phận phụ trách sản phẩm khác.
Các công ty con
khác nhau của các bộ phận phụ trách sản phẩm khác nhau hoạt động ở cùng một
quốc gia ở nước ngoài sẽ báo cáo về cho các ban và bộ phận khác nhau tại trụ sở
chính. Ví dụ, Hình 4.9 mô tả công ty điện và công ty thang máy ở Bỉ sẽ báo cáo
về hai bộ phận khác nhau của công ty, vì vậy, sự kết hợp nguồn lực trong một
nước có thể không được khai khác nếu các công ty con không liên hệ với nhau và
tới cùng một bộ phận phụ trách. Tương tự, có trường hợp, có công ty con
tại tập đoàn Westinghouse phải vay vốn với lãi suất cao tại thị trường địa
phương trong khi đó một công ty con khác lại đang dư thừa tiền mặt.
Mô hình bộ phận phụ trách khu vực địa lý (geographic area division
structure): Các doanh nghiệp thường sử dụng mô hình phụ trách theo
khu vực địa lý (Xem Hình 4.10) để vận hành tổ chức của mình khi các
doanh nghiệp có hoạt động vận hành ở nước ngoài với quy mô lớn mà tập
trung vào một nước hay một vùng cụ thể, bao gồm cả nước chủ nhà. Mô hình
này cũng phổ biến đối với các công ty đa quốc gia của Châu Âu do các công ty
này thường không có một thị trường nội địa có quy mô lớn. Mô hình này thường
phù hợp trong trường hợp doanh nghiệp có được lợi ích từ quy mô sản xuất trên
phạm vi khu vực, không phải trên phạm vi toàn cầu do quy mô thị trường hoặc
công nghệ sản xuất đặc thù của ngành. Thông thường, mô hình này được các doanh
nghiệp theo đuổi chiến lược đa quốc gia sử dụng do mô hình này dành quyền quản
lý phân cấp cho các công ty ở từng nước điều chỉnh thích nghi hơn với các điều
kiện của thị trường địa phương.
Hạn chế của mô
hình này là khả năng lắp lẫn công việc trong mỗi khu vực do các công ty con có
các hoạt động tạo giá trị giống nhau ở những địa điểm khác nhau chứ không tập
trung vào địa điểm hiệu quả nhất. Ví dụ, hãng Neslé có hơn 500 nhà máy ở gần 90
nước để bán khoảng 8.000 nhãn hàng hóa tới hầu hết các nước trên thế giới. Do
vậy, trụ sở tại Thụy Sĩ đã đau đầu để quyết định xem chi phí nguyên liệu đầu
vào của các công ty con mua từ các nhà cung cấp trên khắp thế giới. Và có
những trường hợp, mỗi nhà máy trong số 40 nhà máy của Nestlé tại Hoa Kỳ đã tiến
hành mua nguyên liệu một cách độc lập. Việc thiếu sự phối hợp này đã dẫn tới
hiện tượng các nhà máy của doanh nghiệp tại Hoa Kỳ phải thanh toán tới 20 mức
giá khác nhau đối với sản phẩm vanilla cho cùng một nhà cung cấp.
Mô hình ma trận (matrix structure): Các doanh nghiệp kinh doanh quốc tế theo đuổi chiến
lược xuyên quốc gia tại đó đáp ứng cả hai yêu cầu đó là hội nhập, toàn cầu hóa
và thích nghi địa phương. Để thực hiện chiến lược này, các doanh nghiệp
thường thiết kế tổ chức của mình theo mô hình ma trận để cho phép tận dụng được
ưu điểm của mô hình theo chức năng và mô hình theo bộ phận (Xem Hình 4.11).
Mô hình ma trận về mặt lý thuyết cho phép một doanh nghiệp kinh doanh quốc tế
còn hạn chế được những nhược điểm của hai mô hình kể trên.
Mô hình ma trận
thường xác định rõ một công ty con phải báo cáo tới hơn một bộ phận phụ trách
bao gồm cả về chức năng, sản phẩm hoặc địa lý. Giả định cơ bản ở đây là mỗi
nhóm phải chia sẻ trách nhiệm về hoạt động vận hành ở nước ngoài sẽ
khuyến khích việc mỗi nhóm trao đổi thông tin và nguồn lực một cách tự nguyện
hơn. Ví dụ, các bộ phận phụ trách sản phẩm phải cạnh tranh với nhau để đảm bảo
rằng bộ phận R&D được liên kết với nhóm chức năng như sản xuất, phát triển
công nghệ đối với sản phẩm của họ. Các bộ phận phụ trách sản phẩm sẽ phải cạnh
tranh để đảm bảo rằng các đối tác ở các khu vực địa lý khác nhau sẽ chú ý và
đầu tư quan tâm thỏa đáng đến dòng sản phẩm của mình.
Các bộ phận phụ
trách sản phẩm, phụ trách chức năng và khu vực địa lý phải cùng cạnh tranh với
nhau để có được nguồn lực mà những bộ phận khác đang nắm giữ trong ma trận. Ví
dụ, số lượng các nguồn lực cần thiết để phát triển sản phẩm dệt ở Mexico phụ
thuộc một phần vào cạnh tranh giữa nhóm Châu Âu và Châu Mỹ La tinh và một phần
phụ tuộc vào cạnh tranh nguồn lực giữa nhóm sản phẩm dệt và sản phẩm nông sản.
Do vậy, mô hình ma trận là sự nhân nhượng hữu ích khi các bộ phận gặp khó khăn
trong việc liên kết hay phân tách các hoạt động ở nước ngoài.
Mô hình ma trận
cũng có một số hạn chế. Mô hình này yêu cầu các nhóm cạnh tranh nhau vì các
nguồn lực có hạn, phương pháp vận hành ưa thích, chia sẻ lợi ích hoặc rủi ro.
Xung đột giữa các bộ phận cấp thấp có khả năng phát sinh khi cấp quản lý cấp
cao phải ủng hộ nhóm này hay nhóm kia. Có thể nói, mô hình ma trận tạo ra một
cơ chế quản lý kép làm vi phạm nguyên tắc một lệnh thống nhất (unity of command
principle). Nguyên tắc một lệnh thống nhất cho rằng chuỗi lệnh và thông tin
không bị ngắt quãng sẽ truyền từ cấp cao nhất đến cấp thấp nhất trong tổ chức.
Còn theo mô hình ma trận, trách nhiệm và mối quan hệ công tác nhằng nhịt trong
tổ chức có thể làm cho chuỗi lệnh bị bóp méo hoặc sai lệch. Trong trường hợp
này, quản lý cấp cao không thể giám sát được cán bộ cấp dưới do họ
giả định là có nhóm khác chịu trách nhiệm về việc đó. Ví dụ, giám đốc ở bộ phận
Châu Á có thể không quan tâm tới hoạt động hàng ngày tại một bộ phận sản phẩm B
ở Nhật Bản do họ cho rằng bộ phận phụ trách sản phẩm B sẽ chịu trách nhiệm làm
việc này, trong khi đó, ngược lại bộ phận phụ trách sản phẩm B lại giả định
rằng bộ phận phụ trách Châu Á phải giám sát hoạt động tại Nhật Bản.
Công ty Dow
Chemical thực hiện theo mô hình ma trận cho rằng “chúng tôi theo mô hình ma
trận và phụ thuộc vào tinh thần hợp tác, ở đó không có ai chịu trách nhiệm cả.
Khi mọi thứ ok, chúng tôi không biết ai để khen thưởng và khi một thứ tồi tệ,
chúng tôi không biết ai để phê bình„. Việc giả định nhầm ai đó chịu trách nhiệm
đã khiến cho nhiều công ty lại phải quay lại mô hình phân định vai trò và chức
năng của các bộ phận.
Lý thuyết về Lợi thế cạnh tranh quốc
gia: Mô hình kim cương của Porter
Vào
năm 1990, giáo sư Michael Porter của Trường Kinh doanh Harvard đã cho xuất bản
những kết quả của một nỗ lực nghiên cứu chuyên sâu nhằm tìm hiểu tại sao một số
nước lại thành công còn một số khác lại thất bại trong cạnh tranh quốc tế.
Porter và các cộng sự đã nghiên cứu tổng cộng 100 ngành tại 10 quốc gia khác
nhau. Giống như những người ủng hộ thuyết thương mại mới, công trình của
Porter được định hướng bởi niềm tin rằng các lý thuyết hiện tại về thương mại
quốc tế chỉ chỉ ra được một phần của câu chuyện. Đối với Porter, nhiệm vụ cốt
yếu là giải thích được tại sao một quốc gia đạt được sự thành công quốc tế
trong một ngành cụ thể. Tại sao Nhật Bản rất giỏi trong ngành chế tạo ô tô? Tại
sao Thụy sĩ xuất sắc trong sản xuất và xuất khẩu các thiết bị chính xác và các
loại dược phẩm? Tại sao Đức và Hoa Kỳ làm rất tốt trong ngành công nghiệp
hóa chất? Những câu hỏi này khó thể trả lời được một cách dễ dàng bằng lý
thuyết H-O, và lý thuyết về lợi thế so sánh sẽ nói rằng Thụy Sĩ xuất sắc về sản
xuất và xuất khẩu các thiết bị chính xác bởi vì nước này sử dụng các nguồn lực
của mình rất hiệu quả trong những ngành đó. Mặc dù điều này có thể là chính
xác, nhưng lại không giải thích được tại sao Thụy Sĩ năng suất hơn về ngành đó
so với các nước khác như Anh, Đức, hoặc Tây Ban Nha. Porter đã cố gắng giải vấn
đề nan giải này.
Porter
đã xây dựng lý thuyết về bốn thuộc tính lớn của một quốc gia hình thành nên môi
trường cạnh tranh cho các công ty tại nước đó, và những thuộc tính này thúc đẩy
hoặc ngăn cản sự tạo ra lợi thế cạnh tranh của quốc gia đó (xem Hình 3.4).
Những thuộc tính đó là:
-
Điều kiện về các yếu tố sản xuất – vị thế của một nước về các yếu tố sản xuất
ví dụ như nguồn lao động có kỹ năng hoặc cơ sở hạ tầng cần thiết để cạnh tranh
trong một ngành cụ thể.
-
Các điều kiện về cầu – nhu cầu trong nước đối với hàng hóa hoặc dịch vụ của
một ngành.
-
Các ngành hỗ trợ và liên quan – sự hiện diện hoặc không sẵn có của các ngành hỗ
trợ và liên quan có năng lực cạnh tranh quốc tế.
-
Chiến lược, cơ cấu và mức độ cạnh tranh nội bộ ngành – các điều kiện quản lý
các công ty được tạo ra, tổ chức, và quản trị như thế nào và bản chất của đối
thủ cạnh tranh trong nước.
Porter
đề cập về bốn thuộc tính này như là bốn yếu tố cấu tạo nên mô hình kim cương.
Ông lập luận rằng các công ty có khả năng thành công cao nhất trong những ngành
hoặc các phân ngành trong đó mô hình kim cương được thuận lợi nhất. Ông
cũng cho rằng mô hình kim cương là một hệ thống tương tác và củng cố lẫn nhau.
Tác động của một thuộc tính sẽ phụ thuộc vào tình trạng của các thuộc tính
khác. Ví dụ, theo Porter thì các điều kiện về cầu thuận lợi sẽ không mang lại
lợi thế cạnh tranh trừ khi tình hình cạnh tranh nội bộ ngành đủ để khiến công
ty phải phản ứng lại các điều kiện đó.
Porter
cho rằng có hai yếu tố nữa có thể chi phối tới mô hình kim cương của quốc gia
theo những cách thức quan trọng khác nhau: đó là cơ hội và chính phủ. Những cơ
hội xảy đến, ví dụ những phát minh sáng tạo lớn, có thể tái cấu trúc lại ngành
và mang lại cơ hội cho các công ty của một nước vượt lên những công ty khác.
Chính phủ, bằng cách lựa chọn các chính sách của mình, có thể làm giảm đi hoặc
cải thiện lợi thế quốc gia. Ví dụ, các quy định có thể điều chỉnh các điều kiện
về cầu của quốc gia, các chính sách chống độc quyền có thể tác động tới
mức độ cạnh tranh nội bộ ngành, và các khoản đầu tư của chính phủ vào giáo dục
đào tạo có thể thay đổi điều kiện về các yếu tố sản xuất.
Điều
kiện các yếu tố sản xuất
Điều
kiện về các yếu tố sản xuất chính là trọng tâm của lý thuyết H-O. Khi mà Porter
không đề xuất bất cứ nội dung gì hoàn toàn mới, nhưng ông đã thực sự phân tích
kỹ các đặc tính của các yếu tố sản xuất. Ông thừa nhận sự phân cấp của các yếu
tố sản xuất, phân biệt giữa các yếu tố cơ bản (ví dụ các nguồn tài nguyên thiên
nhiên, khí hậu, vị trí địa lý và nhân khẩu học) và các yếu tố tiên tiến (ví dụ,
hạ tầng truyền thông, lao động có kỹ năng và trình độ cao, các thiết bị nghiên
cứu, và bí quyết công nghệ). Ông lập luận rằng các yếu tố tiên tiến đóng vai
trò hết sức quan trọng trong lợi thế cạnh tranh. Không giống như các yếu tố cơ
bản được ưu đãi một cách tự nhiên, các yếu tố tiên tiến lại là sản phẩm
của sự đầu tư của các cá nhân, các công ty và của chính phủ. Do vậy, các
khoản đầu tư của chính phủ vào đào tạo cơ bản và nâng cao, bằng cách cải thiện
trình độ kiến thức và kỹ năng chung của dân chúng cũng như kích thích nghiên
cứu tiên tến tại các cơ sở giáo dụng cấp cao, có thể giúp nâng cấp các yếu tố
tiên tiến của một nước.
Mối
quan hệ giữa các yếu tố tiên tiến và cơ bản là mối quan hệ phức hợp. Các nhân
tố cơ bản có thể cung cấp lợi thế ban đầu mà sau đó sẽ được củng cố và mở rộng
thông qua đầu tư vào các yếu tố tiên tiến. Ngược lại, bất lợi về các yếu tố cơ
bản có thể tạo ra những áp lực phải đầu tư vào các yếu tố tiên tiến. Một ví dụ
rõ ràng nhất về hiện tượng này là về Nhật Bản, một nước không có nhiều đất
trồng trọt và các nguồn khoáng sản, tuy nhiên thông qua đầu tư đã tạo lập được
một sự dồi dào rất lớn các yếu tố tiên tiến. Porter lưu ý rằng đội ngũ kỹ sư
lành nghề đông đảo ở Nhật Bản (phản ánh thông qua tỷ lệ số lượng người tốt
nghiệp có bằng kỹ sư trên bình quân đầu người hơn hẳn bất kỳ nước nào) là nhân
tố chủ chốt dẫn tới sự thành công của Nhật Bản trong nhiều ngành công nghiệp
chế tạo.
Các
điều kiện về Cầu
Porter
nhấn mạnh tới vai trò của cầu trong nước trong việc giúp nâng cao lợi thế cạnh
tranh của quốc gia. Thông thường, các công ty thường tỏ ra nhạy cảm nhất với
những nhu cầu của những khách hàng ở gần với họ nhất. Do đó, những đặc điểm của
nhu cầu thị trường trong nước đặc biệt quan trọng trong việc định hình các
thuộc tính của các sản phẩm được chế tạo trong nước và trong việc tạo ra sức ép
cho sự sáng tạo đổi mới và nâng cao chất lượng sản phẩm. Porter lập luận rằng
các công ty của một nước giành được lợi thế cạnh tranh nếu những người tiêu
dùng trong nước của họ có được sự sành sỏi và đòi hỏi cao. Những người tiêu
dùng như vậy sẽ tạo ra một sức ép lên các công ty trong nước phải đáp ứng những
tiêu chuẩn cao về chất lượng sản phẩm cũng như phải sản xuất ra những mẫu mã
sản phẩm mới. Một ví dụ về khía cạnh này đó là sự phát triển trong ngành thiết
bị liên lạc không dây. Theo nghiên cứu của Porter, chính sự sành sỏi và yêu cầu
cao của những người tiêu dùng tại khu vực bán đảo Scandinavia đã giúp
thúc đẩy hãng Nokia của Phần Lan và Erricson của Thụy Điển phải đầu tư vào công
nghệ điện thoại di động từ rất lâu trước khi nhu cầu về điện thoại này xuất
hiện tại các nước phát triển khác. Trường hợp của Nokia sẽ được nghiên cứu sâu
hơn trong phần Tiêu điểm quản trị.
Các
ngành công nghiệp hỗ trợ và liên quan
Thuộc
tính lớn thứ ba trong lợi thế cạnh tranh quốc gia về một ngành là sự hiện diện
của các ngành hỗ trợ và liên quan có sức cạnh tranh quốc tế. Những lợi
ích của việc đầu tư vào các yếu tố sản xuất tiên tiến bởi các ngành hỗ trợ và
liên quan có thể sẽ lan tỏa sang một ngành, từ đó giúp ngành này đạt được một
vị trí cạnh tranh vững mạnh trên thế giới. Sức mạnh của Thụy Điển trong các sản
phẩm thép chế biến (ví dụ vòng bi và dụng cụ cắt gọt) đã dựa trên sức mạnh của
nước này trong ngành công nghiệp thép đặc biệt. Năng lực dẫn đầu về công nghệ
trong ngành công nghiệp bán dẫn của Hoa Kỳ đã cung cấp nền tảng cho sự
thành công của nước Hoa Kỳ trong chế tạo máy vi tính cá nhân và một số sản phẩm
điện tử công nghệ cao khác. Tương tự như vậy, sự thành công của Thụy Sĩ trong
ngành dược phẩm có liên quan chặt chẽ đến những thành công trên thị
trường quốc tế của nước này về ngành công nghiệp nhuộm công nghệ cao.
Một
kết quả của quá trình này là các ngành thành công trong phạm vi một quốc gia có
xu hướng tập hợp với nhau thành các cụm gồm các ngành có liên quan. Đây là một
trong những kết quả có tính lan tỏa đáng chú ý nhất trong nghiên cứu của
M.Porter. Một trong những cụm như vậy mà Porter đã xác định được đó là ngành
dệt may của Đức. Ngành này bao gồm các ngành chế biến bông, len, sợi tổng hợp
chất lượng cao, máy khâu, và một loạt các máy móc liên quan tới ngành dệt.
Những cụm ngành như vậy là rất quan trọng bởi vì những kiến thức giá trị có thể
lưu chuyển giữa các công ty trong cùng một cụm về mặt địa lý, mang lại lợi ích
cho tất cả các công ty khác cùng nằm trong cụm đó. Các luồng kiến thức sẽ lưu
chuyển khi nhân viên di chuyển giữa các công ty trong phạm vi một khu vực địa
lý và khi các hiệp hội ngành quốc gia tập hợp nhân công từ các công ty khác
nhau tại các cuộc hội thảo chuyên đề.
Chiến
lược, cấu trúc công ty và đối thủ cạnh tranh
Thuộc
tính thứ tư của lợi thế cạnh tranh quốc gia trong mô hình của M.Porter đề cập
về nội dung chiến lược, cấu trúc và đối thủ cạnh tranh trong phạm vi một quốc
gia. Ở đây, Porter chỉ ra hai điểm quan trọng. Thứ nhất, các quốc gia khác nhau
được đặc trưng bởi các triết lý quản lý khác nhau giúp hoặc không giúp được gì
cho họ trong việc tạo dựng lợi thế cạnh tranh quốc gia. Porter đã nêu ví dụ về
sự phổ biến của các kỹ sư trong giới quản lý cấp cao tại các công ty của Đức và
Nhật Bản. Ông cho rằng lý do của hiện tượng này là do các công ty tại hai nước
này chú trọng nhấn mạnh vào cải tiến các quy trình sản xuất và thiết kế sản
phẩm. Ngược lại, Porter cũng chỉ ra sự phổ biến của những người có hiểu biết về
lĩnh vực tài chính trong giới lãnh đạo của nhiều công ty Hoa Kỳ. Ông liên hệ
điều này với sự thiếu quan tâm của các công ty Hoa Kỳ tới việc cải tiến các quy
trình sản xuất và thiết kế sản phẩm. Theo ông sự thống trị của tài chính dẫn
tới sự quá chú trọng vào việc tối đa hóa lợi nhuận tài chính trong ngắn hạn. Và
một hậu quả của của những triết lý quản trị này là sự thua cuộc về năng lực
cạnh tranh của Hoa Kỳ trong các ngành công nghiệp dựa trên nền tảng cơ khí,
những ngành mà trong đó các vấn đề về quy trình chế tạo và thiết kế sản phẩm
hết sức quan trọng (ví dụ như ngành công nghiệp chế tạo ô tô).
Điểm
thứ hai mà Porter chỉ ra trong nội dung này là sự liên hệ chặt chẽ giữa mức độ
cạnh tranh mãnh liệt trong nước và sự sáng tạo và trường tồn của lợi thế cạnh
tranh trong một ngành. Mức độ cạnh tranh mạnh mẽ trong nước khiến các công ty
phải tìm kiếm các cách cải tiến hiệu quả sản xuất, từ đó làm cho họ trở nên có
sức mạnh cạnh tranh trên thị trường thế giới. Đối thủ cạnh tranh trong nước tạo
ra sức ép cho sự cải tiến, sáng tạo, nâng cao chất lượng, giảm chi phí và đầu
tư vào việc nâng cấp các yếu tố tiên tiến. Tất cả những điều này giúp việc
tạo ra các công ty có sức mạnh cạnh tranh ở tầm thế giới. Porter trích dẫn
trường hợp của Nhật Bản: Không ở đâu vai trò của các đối thủ cạnh tranh trong
nước lại rõ rệt như tại Nhật Bản, nơi mà đó là một cuộc chiến tổng lực với
nhiều công ty thất bại trong việc tìm kiếm lợi nhuận. Với mục tiêu nhấn mạnh
vào khía cạnh thị phần, các công ty Nhật Bản liên tục nỗ lực không ngừng vượt
hẳn lẫn nhau. Tỷ trọng thị phần biến động rất lớn. Quá trình này được đề cập
đến rất nhiều trên mạng lưới báo chí kinh doanh. Thứ tự xếp hạng chi tiết
đo lường xem những công ty nào quen thuộc nhất với các sinh viên tốt nghiệp đại
học. Tỷ lệ ra đời của các sản phẩm và sự phát triển quy trình mới diễn ra không
ngừng nghỉ
Một
điểm tương đồng về tác hiệu quả kích thích của mức độ cạnh tranh trong nước có
thể được minh họa bằng sự nổi lên của hãng Nokia của Phần Lan trên thị trường
thế giới về các thiết bị điện thoại không dây. Để biết chi tiết, xem phần Tiêu
điểm quản trị.
Porter
khẳng định rằng mức độ thành công mà một nước có khả năng đạt được trên thị
trường thế giới về một ngành nhất định là một hàm số của sự kết hợp các thuộc
tính: điều kiện các yếu tố sản xuất, các điều kiện về cầu trong nước,
các ngành công nghiệp hỗ trợ và liên quan, và các đối thủ cạnh tranh trong
nước. Theo ông, sự hiện diện của tất cả bốn thuộc tính là yêu cầu để hình thành
lên mô hình kim cương nhằm thúc đẩy năng lực cạnh tranh (mặc dù vẫn tồn tại
những ngoại lệ) và ông cũng khẳng định rằng chính phủ có thể can thiệp tới từng
thuộc tính trong số bốn thuộc tính thành phần của mô hình kim cương – một cách
tích cực hoặc tiêu cực. Điều kiện về yếu tố sản xuất có thể bị ảnh hưởng bởi
các khoản trợ cấp, các chính sách đối với thị trường vốn, các chính sách đối
với giáo dục, v.v…. Chính phủ có thể xác lập nhu cầu nội địa thông qua các tiêu
chuẩn sản phẩm nội địa hoặc bằng các quy định bắt buộc hoặc ảnh hưởng tới nhu
cầu của người mua hàng. Chính sách của chính phủ có thể tác động tới các ngành
hỗ trợ và liên quan thông qua các quy định và ảnh hưởng tới đối thủ cạnh tranh
thông qua các công cụ như quy định trên thị trường vốn, chính sách thuế, và
luật chống độc quyền.
Như
vậy, theo lý thuyết của M.Porter, các nước nên xuất khẩu những sản phẩm của
những ngành mà tại đó cả bốn thành phần của mô hình kim cương có điều kiện
thuận lợi, và nhập khẩu trong những lĩnh vực tại đó các thành phần không có
điều kiện thuận lợi. Liệu điều này có đúng hay không? Lý thuyết của M.Porter
vẫn cần được kiểm chứng bằng nhiều nghiên cứu thực nghiệm khác nhau. Nội
dung phân tích của của lý thuyết chủ yếu dựa trên những tổng kết thực tiễn,
nhưng điều này cũng hoàn toàn có thể phát biểu cho các lý thuyết thương
mại mới, lý thuyết về lợi thế so sánh, và lý thuyết H-O. Có lẽ chính
xác nhất là từng lý thuyết này, vốn lẽ là các nghiên cứu bổ sung lẫn nhau, chỉ
giải thích một phần về mô hình của thương mại quốc tế mà thôi.
Lý thuyết về lợi thế tuyệt đối
Trong
cuốn sách nổi tiếng của mình xuất bản năm 1776 với nhan đề “Sự giàu có của các
quốc gia“, Adam Smith đã đưa ra quan điểm phản bác lại nhìn nhận của chủ nghĩa
trọng thương cho rằng thương mại là một trò chơi có tổng lợi ích bằng không.
Smith lập luận rằng các quốc gia khác nhau chính là về khả năng sản xuất các
hàng hóa một cách có hiệu quả và theo ông, một nước có lợi thế tuyệt đối trong
sản xuất một sản phẩm khi mà nước đó sản xuất sản phẩm đó một cách hiệu quả hơn
so với nước khác. Vào thời kỳ của Smith, người Anh là những nhà sản xuất hàng
dệt hiệu quả nhất trên thế giới với sự ưu việt hơn hẳn về các quy trình
chế tạo. Trong khi đó, nhờ sự kết hợp của khí hậu thuận lợi, đất đai phì
nhiêu, và kinh nghiệm tích lũy qua nhiều thế hệ, người Pháp lại là những người
sản xuất rượu vang hiệu quả nhất. Như vậy, có thể nói rằng người Anh có được
lợi thế tuyệt đối trong việc sản xuất hàng dệt, trong khi người Pháp lại có lợi
thế tuyệt đối về sản xuất rượu vang.
Theo
Smith, các nước nên chuyên môn hóa vào sản xuất những sản phẩm mà nước đó có
lợi thế so sánh và sau đó trao đổi những hàng hóa đó lấy những hàng hóa sản
xuất bởi những nước khác.Lập luận cơ bản của Adam Smith là một quốc gia không
bao giờ nên tự sản xuất những hàng hóa mà thực tế có thể mua được từ các nước
khác với chi phí thấp hơn. Và bằng cách chuyên môn hóa sản xuất những hàng hóa
mà một nước có lợi thế tuyệt đối, cả hai nước sẽ thu được lợi ích khi tham gia
vào thương mại quốc tế.
Ví
dụ phân tích tác động của thương mại diễn ra giữa hai nước là Ghana và
Hàn Quốc với một số giả định sau:
-
Ghana và Hàn Quốc cả hai đều có cùng một lượng các nguồn lực và những nguồn lực
này có thể được sử dụng để sản xuất một trong hai sản phẩm là gạo hoặc cacao.
-
Tại mỗi nước có sẵn 200 đơn vị nguồn lực và Ghana phải tốn 10 đơn vị nguồn lực
để sản xuất ra một tấn cacao và tốn 20 đơn vị nguồn lực để sản xuất ra một tấn
gạo. Như vậy, Ghana sẽ có thể sản xuất ra được 20 tấn cacao khi không sản xuất
gạo hoặc 10 tấn gạo khi không sản xuất cacao hoặc là số lượng kết hợp của gạo
và cacao ở giữa hai mức sản lượng trên. Những sự kết hợp về sản lượng gạo và
cacao khác nhau mà Ghana có thể sản xuất được biểu diễn trên đường GG‟ trong
Hình vẽ….. Đây được xem là đường giới hạn khả năng sản xuất (PPF) của
Ghana.
-
Tương tự như vậy, giả sử rằng, tại Hàn Quốc phải tốn 40 đơn vị nguồn lực để sản
xuất một tấn cacao và chỉ tốn 10 đơn vị nguồn lực để sản xuất một tấn gạo. Như
vậy, Hàn Quốc sẽ có thể sản xuất tối đa 5 tấn cacao khi không sản xuất gạo, 20
tấn gạo khi không sản xuất cacao, hoặc là số lượng kết hợp của cả cacao và gạo
nằm giữa hai mức sản lượng kia. Những sự kết hợp về sản lượng gạo và cacao khác
nhau mà Hàn Quốc có thể sản xuất được biểu diễn trên đường KK‟ trong Hình 5.1.
Đây được xem là đường giới hạn khả năng sản xuất (PPF) của Hàn Quốc. Có thể
thấy rõ là Ghana có lợi thế tuyệt đối về sản xuất cacao (vì tại Hàn Quốc phải
tốn nhiều nguồn lực hơn để sản xuất cacao so với ở Ghana.)
Tương
tự như vậy, Hàn Quốc có lợi thế tuyệt đối về sản xuất gạo. Trường hợp khi
không có nước nào trao đổi buôn bán với nhau: Mỗi nước sử dụng một nửa nguồn
lực của mình có được để sản xuất gạo và nửa còn lại dùng để sản xuất cacao. Và
đồng thời mỗi nước sẽ phải tiêu dùng lượng hàng hóa mà nước đó sản xuất ra.
Ghana có thể sản xuất 10 tấn cacao và 5 tấn gạo (biểu diễn bằng điểm A trên
Hình 3.1), trong khi Hàn Quốc có thể sản xuất ra 10 tấn gạo và 2,5 tấn
cacao. Khi không có thương mại, mức sản xuất kết hợp của cả hai nước sẽ là 12,5
tấn cacao (10 tấn của Ghana cộng 2,5 tấn của Hàn Quốc) và 15 tấn gạo (5 tấn của
Ghana cộng 10 tấn của Hàn Quốc). Nếu mỗi nước chuyên môn hóa vào sản xuất mặt
hàng mà mình có lợi thế tuyệt đối rồi sau đó trao đổi với nhau hàng hóa mà nước
đó thiếu, Ghana sẽ sản xuất được 20 tấn cacao còn Hàn Quốc sẽ sản xuất được 20
tấn gạo. Như vậy, bằng cách thực hiện chuyên môn hóa, sản lượng của cả hai hàng
hóa đã tăng lên. Sản lượng của cacao tăng từ 12,5 tấn lên 20 tấn, trong khi sản
lượng gạo tăng từ 15 tấn lên 20 tấn. Mức tăng về sản lượng thu được từ việc
thực hiện chuyên môn hóa là 7,5 tấn cacao và 5 tấn gạo. Bảng 3.1 sẽ tóm
tắt những con số này.
Bằng
cách tham gia vào hoạt động thương mại và trao đổi 1 tấn cacao lấy 1 tấn gạo,
các nhà sản xuất ở cả hai quốc gia có thể tiêu dùng một lượng nhiều hơn cacao
và gạo. Giả sử rằng Ghana và Hàn Quốc trao đổi cacao và gạo trên cơ sở 1:1; có
nghĩa là giá của 1 tấn cacao ngang bằng với giá của 1 tấn gạo.
Nếu
Ghana quyết định xuất khẩu 6 tấn cacao sang Hàn Quốc và nhập khẩu về 6 tấn gạo
thì lượng tiêu dùng cuối cùng của nước này sẽ gồm 14 tấn cacao và 6 tấn gạo. So
với trường hợp khi chưa chuyên môn hóa và tham gia vào thương mại thì lượng
tiêu dùng tăng thêm 4 tấn cacao và 1 tấn gạo. Tương tự đối với Hàn Quốc, lượng
tiêu dùng cuối cùng của nước này sẽ gồm 6 tấn cacao và 14 tấn gạo, tức là tăng
thêm 3,5 tấn cacao và 4 tấn gạo. Như vậy, nhờ có chuyên môn hóa và thương mại,
sản lượng của cả cacao và gạo đều được tăng lên và người tiêu dùng ở cả hai
nước được tiêu dùng nhiều hơn. Do đó, chúng ta có thể thấy rõ rằng thương mại
là một trò chơi có tổng lợi ích là một số dương; và thương mại mang lại lợi ích
ròng cho tất cả các nước tham gia.
Quản lý doanh nghiệp theo mô hình
tích hợp Lean - 6 Sigma
|
Tiết
kiệm chi phí, tối ưu hóa sử dụng nguồn lực nhằm quản lý sản xuất hiệu quả,
đảm bảo chất lượng sản phẩm hay dịch vụ cung cấp luôn là mục tiêu phấn đấu
của các doanh nghiệp. Tuy nhiên, việc vận dụng các mô hình quản lý khác nhau
để đạt được các mục tiêu này thường chưa cho kết quả như mong đợi. Trong
nhiều trường hợp, tiết kiệm chi phí và sử dụng nguồn lực hiệu quả có thể đạt
được, nhưng chất lượng sản phẩm hay dịch vụ cung cấp lại chưa đáp ứng được
mong đợi từ khách hàng. Một mô hình quản lý đáp ứng được cùng lúc các mục
tiêu như vậy sẽ giúp doanh nghiệp vừa giảm chi phí sản xuất, vừa làm hài lòng
khách hàng, thực sự cần thiết. Có nhiều mô hình quản lý khác nhau hướng tới
mục đích này. Trong bài viết này mô hình quản lý tích hợp giữa Lean với 6
Sigma được đề xuất như một cách tiếp cận khác cho các doanh nghiệp. Bài viết
không đi sâu vào các khía cạnh kỹ thuật của mô hình quản lý này, mà chỉ nêu
lên các lợi ích mà mỗi mô hình có thể đem lại. Từ góc độ quản lý doanh nghiệp
thì lợi ích cuối cùng có thể đạt được nếu kết hợp hài hòa các lợi ích này với
nhau.
Thị
trường và doanh nghiệp
Theo
khảo sát của Cơ quan Đo lường Nhật Bản (JMA) năm 2004 đối với các doanh
nghiệp Nhật Bản về mức độ quan trọng của các yếu tố trong hệ thống quản lý,
công nghệ, tới sự mong đợi của khách hàng đối với sản phẩm/dịch vụ cung cấp,
kết quả cho thấy ba yếu tố quan trọng nhất là Chất lượng - Chi phí - Giao
hàng được đa số khách hàng mong muốn. Trong các tiêu chí đánh giá khảo sát
khác ví dụ như cải tiến công nghệ hay linh hoạt trong hệ thống sản xuất cũng
chỉ được đánh giá ở mức độ vừa phải (ít hơn 30%, so với mức hơn 70% của ba
yếu tố trên). Rõ ràng chí phí và chất lượng (sản phẩm hay dịch vụ) là các vấn
đề sống còn đối với các doanh nghiệp. Làm sao cùng đáp ứng được cả hai yêu
cầu này đòi hỏi các doanh nghiệp phải có cách tiếp cận phù hợp và hiệu quả
theo đặc thù, hiện trạng và năng lực của chính doanh nghiệp.
Trong
bối cảnh cạnh tranh gay gắt, cắt giảm chi phí và đảm bảo chất lượng cũng
chính là nền tảng để phát triển bền vững của doanh nghiệp. Các các mô hình
quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn, ví dụ như ISO 9000, cũng có những hướng
dẫn về duy trì cải tiến liên tục nhằm thực hiện các biện pháp kiểm soát trong
quá trình để giảm chi phí và đảm bảo chất lượng sản phẩm/dịch vụ. Tuy nhiên
những hướng dẫn này chưa chỉ ra được cụ thể về cách thức triển khai, hay nói
cách khác mới là định hướng còn thực hiện ra sao đòi hỏi doanh nghiệp phải có
sự tìm tòi nghiên cứu các giải pháp thích hợp.
Nhìn
vào một số mô hình quản lý phi tiêu chuẩn, ví dụ như mô hình Kaizen của Nhật
Bản, các vấn đề cải tiến để cắt giảm chi phí sản xuất được đề cập đến như
nguyên tắc cơ bản khi áp dụng các mô hình này. Áp dụng các nguyên tắc Kaizen
có thể giúp giảm tỷ lệ hư hỏng của sản phẩm xuống 25%, giảm chi phí 20% và tăng
sản lượng lên 25%, giúp rút ngắn thời gian giao hàng và tăng doanh số cho
công ty. Các hoạt động cải tiến của mô hình Kaizen bắt đầu từ nền tảng rất cơ
bản, đó là phải có một môi trường làm việc bố trí sắp xếp khoa học, tinh
giản, tạo thuận lợi nhất cho công việc. Chính nguyên tắc này khi được thấu
hiểu và áp dụng rộng rãi cho các hoạt động sản xuất khác, sẽ đem lại các hiệu
quả như kể trên.
Sản
xuất tinh gọn (Lean)
Nhìn
lại các mô hình sản xuất truyền thống, khi chuyển đổi từ sản xuất đơn lẻ sang
sản xuất hàng loạt, các đặc điểm về cấu trúc thị trường sản phẩm đã được thay
đổi.
Vào
những năm 1950s-1970s, khi năng lực sản xuất còn thấp hơn nhu cầu cần đáp ứng
của thị trường, sản xuất tập trung vào dạng sản phẩm thông thường. Các nhà
sản xuất cố gắng đáp ứng thị trường bằng số lượng, mô hình sản xuất hàng loạt
ra đời.
Tới
khi giữa các nhà sản xuất gia tăng sự cạnh tranh mạnh mẽ, đòi hỏi phải tạo ra
sản phẩm với tính toán chi phí hiệu quả nhằm đáp ứng thỏa mãn khách hàng.
Điều này thúc đẩy mô hình sản xuất đa dạng hóa sản phẩm, bắt đầu từ cuối thập
niên 1980. Các biện pháp cắt giảm chi phí và chế tạo ra sản phẩm mang tính
đột phá trở nên quan trọng hơn nhằm tăng lợi nhuận. Vòng đời của sản phẩm
cũng được rút ngắn hơn so với thời kỳ sản xuất sản phẩm hàng loạt.
Nếu
nhìn vào cơ cấu giá thành của sản phẩm giữa hai mô hình sản xuất này, hàng
loạt và đa dạng, có thể thấy sự thay đổi cơ bản về cách tính giá bán. Chính
điều này đòi hỏi nhà sản xuất phải có các chiến lược tiếp cận thị trường cho
phù hợp theo từng giai đoạn.
Ở
thời kỳ sản xuất hàng loạt, đặc điểm sản xuất là sản phẩm có mẫu mã đơn
chiếc, nhưng được sản xuất ra nhiều, lấy số lượng làm mục tiêu. Công thức
tính giá bán được xác định như sau:
GIÁ
BÁN = CHI PHÍ + LỢI NHUẬN
Nhà
sản xuất quyết định giá bán sau khi đã tính toán về chi phí phải bỏ ra và cân
nhắc về lợi nhuận muốn có.
Khi
chuyển sang mô hình sản xuất đa dạng hóa sản phẩm, công thức trên được thay
đổi như sau: GIÁ BÁN - CHI PHÍ = LỢI NHUẬN
Rõ
ràng có sự khác biệt cơ bản về cách xác định lợi nhuận. Trong mô hình này, sự
cạnh tranh giữa các nhà sản xuất có cùng loại sản phẩm cung cấp đã được tính
toán để doanh nghiệp có được một giá bán mang tính cạnh tranh nhất. Lúc này,
thị trường quyết định giá bán, và nếu nhà sản xuất muốn đạt được lợi nhuận
cao nhất, chỉ còn cách giảm được càng nhiều chi phí càng tốt. Chính vì thế,
các mô hình quản lý sản xuất hướng tới việc giảm tối đa chi phí trong sản
xuất. Mô hình sản xuất tinh gọn (LEAN) ra đời nhằm đáp ứng các yêu cầu này.
Một ví dụ về sự thành công của mô hình này chính là công ty Toyota, với mô
hình mang tên của công ty Toyota Production System (Hệ thống sản xuất
Toyota). Công ty Toyota đã thành công tại thị trường vô cùng cạnh tranh ở Mỹ,
và triết lý của người Nhật trong quản trị sản xuất đã khiến các công ty của
Mỹ phải học tập. Từ những năm 1995, mô hình Lean đã được nghiên cứu sâu rộng
ở Mỹ, tại các trường đại học hàng đầu như Viện Công nghệ Mat-sa-chu-set
(MIT).
Mô
hình sản xuất tinh gọn tập trung vào 3 yếu tố chính là Con người - Quá trình
- Công nghệ. Mô hình hướng tới sự tham gia của mọi người, với tư duy Lean
(tinh gọn) luôn thường trực trong mỗi người khi tham gia vào các quá trình
sản xuất/dịch vụ. Các quá trình tổ chức, quản lý sản xuất được tối ưu hóa
nhằm loại bỏ tối đa các loại chi phí. Việc này được hỗ trợ bởi ứng dụng công
nghệ hiện đại, tự động hóa. Công nghệ được dùng để hỗ trợ con người và các
quá trình sản xuất một cách hiệu quả nhất. Và tất cả 3 yếu tố này cuối cùng
nhằm tới khách hàng, thỏa mãn được khách hàng chính là sự thành công. Mục
tiêu tạo giá trị cho khách hàng là ít lãng phí, giao hàng nhanh, chất lượng
tốt. Hai yếu tố mấu chốt là giảm lãng phí và tăng tốc độ giao hàng. Kết hợp
với đó là sự linh hoạt, tham gia của mọi người, trên nền tảng chuẩn hóa công
việc.
Mô
hình 6 Sigma
Vào
đầu những năm 1980, trong nỗ lực nâng cao chất lượng cao nhất cho các sản
phẩm của mình, công ty Motorola của Mỹ đã khởi xướng mô hình quản lý chặt chẽ
các quá trình sản xuất và bắt đầu đưa ra khái niệm 6 Sigma. Sự thành công của
mô hình quản lý này tại Motorola đã tạo nên một phong trào triển khai rộng
rãi tại hàng loạt các công ty hàng đầu như IBM, DEC, Allied Signal, GE v.v.
Cho đến nay, mô hình này không những được triển khai rộng rãi trong lĩnh vực
sản xuất. Lĩnh vực dịch vụ cũng đang nâng cao dần chất lượng phục vụ với cách
thức kiểm soát chặt chẽ các khâu, các quá trình cung cấp theo mô hình 6
Sigma. Có thể kể tên hàng loạt các công ty đã và đang triển khai thành công
như Bombardier, Raytheon, Siemens, Nokia, Navistar, WIPRO, Kodak, Sony,
Siebe, 3M, Polaroid, Citibank, ABB, Dupont, Lomega, Amex, Seagate, Black
& Decker.
Đã
có nhiều công trình nghiên cứu và bài viết về mô hình 6 Sigma, ở đây có thể
tóm tắt các điểm chính của mô hình như sau: đó là sự Cải tiến thành quả của
các quá trình: dựa trên sự kiện để giải quyết vấn đề theo vấn đề Chất lượng
nghiêm trọng đối với khách hàng (Customer critical to Quality -CTQ); Cải tiến
sự hài lòng của khách hàng: tăng trách nhiệm với khách hàng, giảm sự bất mãn
của khách hàng; Giảm chi phí: Giảm sai sót về sản phẩm, dịch vụ và thời gian
chuyển giao. Tăng Hiệu suất, giảm phế phẩm. Tất cả nhằm Tăng thu nhập và lợi
nhuận.
Điểm
nổi bật của mô hình 6 Sigma là ứng dụng các kỹ thuật thống kê để kiểm soát
quá trình sản xuất hay cung cấp dịch vụ. Các quá trình được thiết kế sao cho
đạt được sự biến đổi của sản phẩm/dịch vụ là ít nhất. Nguyên nhân gây ra sự
biến đổi được xác định thông qua các kỹ thuật thống kê, phân tích các yếu tố
gây ra sai lỗi và tìm cách điều chỉnh để quá trình đạt được mục tiêu đã xác
định.
Mô
hình tích hợp Lean-6Sigma
Rõ
ràng với mô hình Lean, hay sản xuất tinh gọn, tạo ra sản phẩm với ít chi phí
nhất, giao hàng trong thời gian nhanh nhất, sẽ giúp doanh nghiệp tăng cao khả
năng cạnh tranh và tăng lợi nhuận. Tuy nhiên khía cạnh chất lượng của sản
phẩm/dịch vụ vẫn là vấn đề cần quan tâm. Kinh nghiệm triển khai tại một số
doanh nghiệp ở Việt nam cho thấy sự biến đổi (không đồng nhất) về chất lượng
sản phẩm trong quá trình sản xuất/dịch vụ vẫn còn và đòi hỏi có biện pháp kiểm
soát tốt hơn. Với các doanh nghiệp có sự hỗ trợ tốt nhờ công nghệ hiện đại
(ví dụ tự động hóa), có thể khắc phục được vấn đề này tốt hơn, tuy nhiên vẫn
cần có sự kiểm soát, điều chỉnh quá trình. Chính vì thế, kết hợp với mô hình
6 Sigma có thể giúp cung cấp cho doanh nghiệp một phương thức kiểm soát quá
trình chặt chẽ, nhờ đó ổn định và giảm sự biến đổi về chất lượng của sản
phẩm/dịch vụ cung cấp.
|
No comments:
Post a Comment