Chương I
Nhà nước pháp quyền
Nhà
nước pháp quyền, với định nghĩa căn bản nhất là
không có ai ở trên luật hay ngoài luật, mà mọi người phải tuân theo pháp luật.
Một nguyên tắc bắt nguồn một cách logic từ ý tưởng cho rằng sự thật, cũng như
luật, đều dựa trên những nguyên tắc căn bản có thể được phát hiện ra nhưng
không thể được tạo ra theo ước muốn.
Có
lẽ ứng dụng quan trọng nhất của pháp quyền là nguyên tắc rằng chính quyền chỉ
thực thi quyền hành một cách hợp pháp theo các luật được soạn thảo ra và phát
hành rộng rãi. Những luật đó được thông qua và thực thi theo đúng các bước được
gọi là thủ tục pháp lý. Nguyên
tắc này nhằm mục đích ngăn ngừa sự cai trị độc đoán dù cho đó là lãnh đạo
chuyên quyền hay quần chúng lãnh đạo. Chính vì vậy, pháp quyền chống lại cả chế
độ độc tài lẫn tình trạng vô chính phủ. Samuel Rutherford
là một trong những tác giả đương đại đưa ra nguyên tắc đó những nền tảng lý
thuyết trong cuốn Lex, Rex (1644),
và sau này là Montesquieu trong cuốn Tinh thần Pháp luật xuất bản năm 1748.
Ở
Châu Âu đại lục và tư
tưởng pháp lý, pháp quyền thường, nhưng không phải luôn luôn, có liên hệ với Rechtsstaat
(Nhà nước pháp quyền - Đức). Theo tư tưởng những người Châu Mỹ Anglo,
pháp quyền có quan hệ mật thiết với tam quyền phân lập, tính chắc chắn của pháp lý, nguyên tắc ước muốn hợp pháp
và bình đẳng của mọi người trước pháp luật.
Khái
niệm đó không có gì tranh cãi và nó được truyền rằng cụm từ 'Pháp quyền' đã
trở thành vô nghĩa do sự lạm dụng của ý thức hệ và việc dùng quá mức chung
chung.[1]
Tổng quan
Tại
Pháp cũng như Đức, từ đầu thế kỉ 20 Nhà nước pháp quyền được quan niệm như
một hình thức tổ chức quyền lực nhà nước đặc biệt, đặt dưới một « chế độ
luật pháp »: trong nhà nước như thế, chính quyền chỉ được sử dụng những
phương tiện được ban ra bởi trật tự pháp lý hiện hành, trong khi đó các cá nhân
được sử dụng những phương tiện tư pháp để chống lại sự lạm quyền có thể có đến
từ chính quyền. Trung tâm của học thuyết nhà nước pháp quyền, là nguyên tắc
theo đó các cơ quan nhà nước chỉ có thể hành động dựa trên một tư cách pháp lý:
Mọi hành vi sử dụng sức mạnh vật chất đều phải được căn cứ dựa trên các quy
phạm pháp luật. Việc thực thi quyền lực nhà nước được căn cứ bởi thẩm quyền
(Kompetenz), được thiết lập và đóng khung bằng luật pháp. Cơ quan nhà nước có
nghĩa vụ tuân thủ các quy phạm pháp luật. Nhà nước pháp quyền đòi hỏi trước
tiên sự phục tùng pháp luật bởi chính quyền: Chính quyền phải tuân thủ các quy
định vốn tạo nên nền tảng, khuôn khổ và phạm vi hoạt động của chính quyền đó,
sự tuân thủ này phải được đảm bảo bởi sự tồn tại của một cơ chế kiểm soát tư
pháp độc lập, tức là hoặc bởi các quan tòa bình thường (Justizstaat), hoặc bởi
các tòa án đặc biệt (Sondergerichte). Nhưng lý thuyết này cũng đòi hỏi sự lệ
thuộc của luật vào Hiến
pháp: Nghị
viện phải thực thi những quyền hạn của
mình trong khuôn khổ đã được xác định bởi Hiến pháp, và hơn thế, sự can thiệp
của một quan tòa, ở đây là một tòa hiến pháp là điều cần thiết để đảm bảo sự
tôn trọng tính tối thượng của hiến pháp.
Khái niệm
Nhà
nước pháp quyền là vị thế pháp lí hay một hệ thống thể chế, nơi mỗi người đều
phải phục tùng và tôn trọng luật pháp, từ cá nhân đơn lẻ cho tới cơ quan công
quyền. Nhà nước pháp quyền như vậy liên hệ chặt chẽ với sự tôn trọng trật tự
thứ bậc của các quy phạm, tôn trọng sự phân chia quyền lực và tôn trọng các
quyền căn bản. Nhà nước pháp quyền là nhà nước nơi những người được ủy giao
trọng trách thông qua phiếu bầu phải có trách nhiệm với những luật lệ mà họ ban
ra. Lí thuyết phân quyền của Montesquieu vốn là nền tảng cho phần lớn Nhà nước phương Tây hiện đại
khẳng định sự phân chia 3 quyền (lập pháp, hành pháp và tư pháp) và những giới
hạn của 3 thứ quyền lực này. Ví dụ trong mô hình dân chủ nghị viện, quyền lập
pháp (Nghị viện) hạn chế quyền lực của phía hành pháp (Chính phủ): Như vậy
chính phủ không thể tự do hành động theo sở thích của mình và phải luôn có được
sự hậu thuẫn của Nghị viện, nơi thể hiện ý chí và nguyện vọng của dân chúng.
Cũng như thế, tư pháp cho phép tạo ra sự đối trọng đối với một số quyết định
của chính phủ. Như vậy, Nhà nước pháp quyền đối lập với các thể chế quân chủ
tuyệt đối với thứ quyền lực thần thánh (Trong các chế độ trước, hoàng đế có
quyền lực tối thượng, giống như Louis 14
đã từng nói: Ta chính là Nhà nước) và cũng đối lập với các thể chế độc tài, nơi
chính quyền hành động bất chấp các quyền căn bản. Nhà nước pháp quyền cũng
không đòi hỏi tất cả luật pháp đều phải là luật thành văn. Ví dụ như Hiến pháp Anh Quốc, dựa trên các tập quán là chủ yếu. Trong trường hợp như
thế, những người được giao phó quyền lực phải tuân thủ luật pháp thep tập quán với sự tôn trọng các quyền căn bản tương tự như trong hệ thống luật thành
văn. Lí thuyết của Hans
Kelsen: Nhà nước pháp quyền và trật tự các
quy phạm. Theo định nghĩa cổ xưa nhất thì Nhà nước pháp quyền là một hệ thống
thể chế nơi quyền lực công phục tùng pháp luật. Vào đầu thế kỷ 20, nhà luật học
người Áo Hans Kelsen
đã định nghĩa lại khái niệm có nguồn gốc từ người Đức này (Rechtsstaat) như là một Nhà nước trong đó các quy phạm pháp luật được
sắp xếp có trật tự sao cho quyền lực phải chịu sự giới hạn ». Trong mô
hình này, mỗi quy phạm có được hiệu lực từ sự tuân thủ các quy phạm cao hơn. Sự
tồn tại một trật tự có thứ bậc các quy phạm tạo nên một trong những đảm bảo
quan trọng bậc nhất của Nhà nước pháp quyền. Trong khuôn mẫu đó, thẩm quyền của
các cơ quan Nhà nước phải được xác định một cách rõ ràng và các quy phạm mà
những cơ quan này tạo ra chỉ có hiệu lực với điều kiện tuân thủ toàn bộ các quy
phạm có hiệu lực cao hơn. Cao nhất của hệ thống các quy phạm pháp luật là Hiến
pháp
Quan điểm Anh quốc - Lord Bingham's sub-rules
Trong
bài diễn văn của Lord Bingham of
Cornhill vào ngày 16 tháng 11 năm 2006 nói
về Sir David Williams Lecture ở Khoa Luật trường Đại học Cambridge
[2], ông ta đã đưa ra tám yêu cầu về pháp quyền:
- Luật phải dễ được tiếp cận cũng như dễ hiểu đối với người dân, rõ ràng và có thể dự báo
- vấn đề quyền pháp lý và trách nhiệm pháp lý phải được giải quyết bằng luật và không được tùy tiện
- luật của các địa phương nên áp dụng đồng bộ
- luật phải bảo vệ những quyền căn bản của con người
- các phương tiện truyền thông phải được cung cấp để giải quyết với chi phí phải chăng và không bị trì hoãn quá đáng
- các bộ trưởng và công chức ở các cấp phải thực thi quyền lực của mình một cách hợp lý và trung thực, cho mục đích cụ thể được giao cho và không được vượt quá quyền hạn của mình.
- Thủ tục xét xử phải công bằng
- Nhà nước thực thi bổn phận của mình phải tuân thủ luật quốc tế.
·
o
- Quy mô quyền lực:
Có
vấn đề ở đây về nhà nước pháp quyền, khi 3 ngành quyền lực được phân chia, mỗi
ngành quyền lực đều muốn và tìm cho mình những "râu" quyền lực mới để
mở rộng quyền lực cho mình. mà với khả năng của mỗi ngành quyền lực mở rộng là
khác nhau, như vậy sự mất cân bằng trong 3 ngành quyền lực sẽ bị lệch và đi tới
thoái hóa pháp quyền. Vậy làm sao để nhà nước pháp quyền được ổn định? Những
"ông bầu" pháp quyền luôn gia tăng vị thế cho mình bằng hành pháp,
vậy Lập pháp và tư pháp sẽ phải làm gì để giữ lại sự cân bằng?
Sự bình đẳng trước pháp luật
Bài chi tiết: Bình đẳng trước pháp luật
Chính
Nhà nước cũng được xem như một pháp
nhân: Các quyết định của chính quyền như
vậy cũng phải tuân thủ nguyên tắc hợp pháp như bao chủ thế pháp lý khác. Nguyên tắc này cho phép đóng khung hoạt động của
quyền lực công và đặt hoạt động đó vào khuôn khổ của nguyên tắc pháp chế, vốn
trước tiên dựa trên các nguyên tắc hiến định. Trong khuôn khổ đó, các cưỡng chế
hướng lên Nhà nước sẽ mạnh mẽ: Các quy định mà Nhà nước đưa ra và các quyết
định mà Nhà nước ban hành phải tuân thủ toàn thể các quy phạm pháp luật
cao hơn đang có hiệu lực (các luật, điều ước quốc tế và các nguyên tắc mang
tính Hiến pháp), không được quyền hưởng bất kì ưu tiên về mặt tài phán. Các cá nhân cũng như pháp nhân của luật tư như thế là đối lập tranh cãi
với các quyết định của cơ quan công quyền bằng các đối lập với các quy phạm mà
cơ quan này ban hành. Trong khuôn mẫu này, vai trò của các cơ quan tài phán là
vô cùng cần thiết và sự độc lập của tư pháp là bắt buộc.
Sự độc lập của tư pháp
Để
có được tầm ảnh hưởng trên thực tế, nguyên tắc của nhà nước pháp quyền được đảm
bảo bởi sự hiện diện của các cơ quan tố tụng độc lập, có thẩm quyền tài phán đối với các tranh chấp giữa
các chủ thể pháp lý khác nhau bằng cách áp dụng đồng thời nguyên tắc hợp pháp
vốn có được từ sự tồn tại của một trật tự các quy phạm, và nguyên tắc bình đẳng
vốn đối lập với sự xét xử phân biệt giữa các chủ thế pháp lý. Một mô hình như
thể dẫn tới sự hiện diện của sự phân chia quyền lực
và một hệ thống tư pháp
độc lập. Thực tế thì, tư pháp là một phần của Nhà nước, tuy nhiên nó độc lập
với quyền lập pháp và tư pháp và được đảm bảo bằng tính công minh của tư pháp
trong việc áp dụng cả quy phạm pháp luật. Các cơ quan tư pháp phải đối chiếu
các quy phạm khác nhau khi xét xử. Một hiệp ước trái với Hiến pháp có thể bị
xem xét bởi cơ quan tư pháp và xem như không có hiệu lực, đó là một hình thức
kiểm tra các công ước, tính hợp thức của các luật lệ và văn vản dưới luật được
kiểm tra bởi một cơ chế bảo hiến phù hợp với mỗi quốc gia. Như vậy có thể nói
Nhà nước pháp quyền đòi hỏi sự hiện diện của một cơ chế bảo hiến cũng như kiểm
tra các điều ước..
Nhà nước pháp quyền
Nhà
nước pháp quyền hình thức Nhà
nước cộng
hòa trong đó Nhà nước xây dựng nên pháp
luật để quản lý xã
hội và tự đặt mình dưới pháp luật. Mọi
cơ quan Nhà nước đều phải được tổ chức và chỉ được phép hoạt động trong khuôn
khổ quy định của pháp luật. Công dân tuân thủ, thi hành và sử dụng pháp luật. Quyền công dân
được pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Trong Nhà nước pháp quyền, ba ngành lập pháp,
hành pháp
và tư pháp
độc lập với nhau. Vai trò của tòa
án được đề cao. Điều kiện để có một
Nhà nước pháp quyền là phải có một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, đồng bộ, phù
hợp và kịp thời. Điều này đòi hỏi công tác xây dựng pháp luật và pháp điển hóa
không ngừng được thực hiện. Nhà nước pháp quyền dựa trên nguyên tắc dân
chủ. Dân chủ là nền tảng để hoàn chỉnh
pháp luật. Pháp luật là công cụ để bảo vệ quyền công dân.
Điều kiện để thực hiện Nhà nước pháp quyền
Muốn
có Nhà nước pháp quyền thì phải có hệ thống pháp luật hoàn chỉnh trong đó các
Bộ luật và các đạo luật chiếm đa số, còn lại là các văn bản quy phạm pháp luật
dưới luật. [cần dẫn nguồn]
Quyền
lập pháp, hành pháp và tư pháp phải độc lập với nhau, nhưng kiềm chế được nhau.
Hệ thống tòa án phải độc lập, vững mạnh và có sức mạnh để buộc các cơ quan Nhà
nước và nhân viên Nhà nước kể cả những nhân viên Nhà nước cao cấp nhất phải
chấp hành pháp luật. [cần dẫn nguồn]
Chủ nghĩa độc đoán
Pháp
quyền thường bị các quốc gia độc đoán, toàn trị
hay đơn đảng
phản đối. [cần dẫn nguồn] Chính
sách dứt khoát của các chính quyền đó là nhà nước chiếm hữu các quyền uy vốn có
để hành động chỉ dựa trên ý thích của họ mà không bị kiểm tra hay hạn chế, tiêu
biểu là sắc lệnh Night and Fog (Đêm tối và Sương mù) của Đức quốc xã.
Các chính quyền độc tài thường thành lập lực lượng cảnh sát chìm thường chịu trách nhiệm đối với những luật được ban hành và
có thể đàn áp các mối đe dọa với chính quyền nhà nước đó.
Pháp quyền Xã hội chủ nghĩa
Tại
Điều 2 Hiến pháp 1992 (sửa đổi 2001) đã đưa ra khái niệm "Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa". Tuy nhiên trên thực tế, không có sự giải thích rõ
ràng về Nhà nước Pháp quyền Xã hội Chủ nghĩa bằng văn bản. Khái niệm này
lần đầu tiên được nhắc đến do ông Đỗ Mười
tại Hội nghị lần thứ II, Ban chấp hành Trung ương khóa VII, ngày 29-11-1991 [3]. Gần đây được bàn đến trong các cuộc họp cấp cao ở Việt
nam. Điển hình là trong bài diễn văn
tại phiên khai mạc kỳ họp đầu tiên của QH khóa XII vào ngày 19/7/2007, ông Nông Đức Mạnh
đã lần đầu tiên chính thức công bố nội dung của Học thuyết Nhà nước pháp quyền
Xã hội chủ nghĩa. Như lời Luật sư Lê Công Định,
học thuyết này là sự sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong việc vận dụng
thuyết tam quyền phân lập
vào bối cảnh chính trị một đảng cầm quyền
đặc biệt ở Việt Nam [2] Theo quan điểm của GS.TS. Nguyễn Duy Quý, nhà nước pháp
quyền không phải là một kiểu nhà nước (giống như kiểu nhà nước chiếm hữu nô lệ,
kiểu nhà nước phong kiến, kiểu nhà nước tư bản chủ nghĩa hay kiểu nhà nước xã
hội chủ nghĩa) mà là một phương thức tổ chức quyền lực nhà nước tiến bộ mà bất
kì nhà nước nào, thể chế chính trị nào muốn đạt đến trình độ văn minh đều phải
hướng tới.[3]
Nội
dung có thể được tóm lược:
- Quyền lực nhà nước là thống nhất, nhưng có sự phân công giữa các cơ quan nhà nước để thực hiện chức năng lập pháp, hành pháp và tư pháp.
- Nhà nước quản lý đất nước và xã hội theo pháp luật do Quốc hội ban hành, trong đó hiến pháp và luật pháp là kết quả của sự thể chế hóa đường lối, quan điểm, chủ trương và chính sách của Đảng.
- Thẩm quyền của Chính phủ được xác định trên cơ sở phân định những loại việc Chính phủ chủ động quyết định với những loại việc Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị và Ban Bí thư trực tiếp quyết định hoặc cho ý kiến định hướng. Cũng tương tự như vậy, thẩm quyền của chính quyền địa phương được xác định trên cơ sở phân định những loại việc do hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân chủ động quyết định với những loại việc ban chấp hành và ban thường vụ đảng bộ quyết định hoặc cho ý kiến để hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân thực hiện.
- Hoạt động tư pháp, kể cả việc đào tạo, quản lý và sử dụng đội ngũ cán bộ tư pháp, do Đảng lãnh đạo thông qua vai trò của cấp ủy và ban cán sự đảng ở các cơ quan tư pháp căn cứ quy định của Đảng.
Tuy
nhiên, các ý kiến chỉ trích cho rằng việc lãnh đạo theo Pháp quyền Xã hội Chủ
nghĩa có thể vi hiến [4] vì không tuân thủ nguyên tắc của một nhà nước tam quyền phân lập.
Điều này có nghĩa là ba cơ quan lập pháp,
hành pháp
và tư pháp
không độc lập nhau mà ba cơ quan đó đều được điều hành bởi một đảng duy nhất
lãnh đạo [5].
Chương 2
NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA HỌC THUYẾT TAM QUYỀN PHÂN LẬP VÀ Ý NGHĨA TRONG TỔ CHỨC, HOẠT ĐỘNG
CỦA
BỘ MÁY NHÀ NƯỚC TA HIỆN NAY
Trước chế độ dân chủ tư sản và dân chủ xã hội chủ nghĩa, mọi
quyền lực nhà nước đều tập trung trong tay một cá nhân. Đây chính là căn nguyên
của sự độc tài, chuyên chế trong việc thực hiện quyền lực nhà nước. Để chấm dứt
chế độ này và đặt nền móng cho sự hình thành các thể chế tự do, dân chủ, một
học thuyết của nhiều học giả tư sản đã được nêu ra, đó là thuyết tam quyền phân
lập. Theo học thuyết này, quyền lực nhà nước không phải là một thể thống nhất,
mà phân chia thành 3 quyền: quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Các quyền này
được thực hiện độc lập với nhau, kiểm soát và kiềm chế lẫn nhau.
Tư tưởng phân quyền được các nhà triết học đặt ra từ thời La Mã
cổ đại, với đại diện tiêu biểu là nhà bác học vĩ đại Aristote (384 - 322
tr.CN). Ông đã chia hoạt động của nhà nước thành ba thành tố: nghị luận, chấp
hành và xét xử. Tuy nhiên, tư tưởng của ông mới chỉ dừng ở việc phân biệt các
lĩnh vực hoạt động của nhà nước, chứ chưa chỉ rõ phương thức vận hành cũng như
mối quan hệ bên trong giữa các thành tố đó. Tư tưởng về phân quyền chỉ trở
thành một lý thuyết toàn diện và độc lập trong thời kỳ Khai sáng. Người khai sinh
ra học thuyết này là triết gia người Anh, John Loke (1632-1704) và người có
đóng góp lớn nhất trong việc phát triển nó một cách hoàn chỉnh là nhà luật học
người Pháp S. Montesquieu (1689-1755).
Nội dung cốt lõi của học thuyết này cho rằng, quyền lực nhà nước
luôn có xu hướng tự mở rộng, tự tăng cường vai trò của mình. Bất cứ ở đâu có
quyền lực sẽ xuất hiện xu thế lạm quyền và chuyên quyền, cho dù quyền lực ấy
thuộc về ai. Do vậy, để đảm bảo các quyền tự do cơ bản của công dân, ngăn ngừa
hành vi lạm quyền của các chủ thể nắm giữ quyền lực nhà nước phải thiết lập
pháp chế nhằm giới hạn quyền lực. Cách tốt nhất để chống lạm quyền là giới hạn
quyền lực bằng công cụ pháp lý và cách thực hiện không phải là tập trung quyền
lực mà phân chia nó ra. Muốn hạn chế quyền lực nhà nước thì trước hết phải phân
quyền và sau đó phải làm cho các nhánh quyền lực đã được phân chỉ được phép
hoạt động trong phạm vi quy định của pháp luật. Montesquieu đã lập luận tinh tế
và chặt chẽ tính tất yếu của việc tách bạch các nhánh quyền lực và khẳng định:
“Trong mỗi quốc gia đều có ba thứ quyền lực: Quyền lập pháp, quyền thi hành
những điều hợp với quốc tế công pháp và quyền thi hành những điều trong luật
dân sự.”[1]Montesquieu
chủ trương phân quyền để chống lại chế độ chuyên chế, thanh toán lạm quyền, để
chính quyền không thể gây trở ngại cho người bị trị và đảm bảo quyền tự do cho
nhân dân. Ông viết: “Khi mà quyền lập pháp và hành pháp nhập lại trong tay
một người hay một Viên Nguyên Lão, thì sẽ không có gì là tự do nữa, vì người ta
sợ rằng chính ông ta hoặc viện ấy chỉ đặt ra những luật độc tài để thi hành một
cách độc tài. Cũng không có gì là tự do nếu như quyền tư pháp không tách rời
quyền lập pháp và hành pháp. Nếu quyền tư pháp được nhập với quyền lập pháp,
thì người ta sẽ độc đoán với quyền sống, quyền tự do của công dân; quan toà sẽ
là người đặt ra luật. Nếu quyền tư pháp nhập lại với quyền hành pháp thì quan
toà sẽ có cả sức mạnh của kẻ đàn áp. Nếu một người hay một tổ chức của quan
chức, hoặc của quý tộc, hoặc của dân chúng, nắm luôn cả ba thứ quyền lực nói
trên thì tất cả sẽ mất hết.”[2]
Theo học thuyết tam quyền phân lập, quyền lực nhà nước phân chia thành các
quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp, không chỉ để chuyên môn hoá các quyền mà
quan trọng hơn là để giữa các quyền có sự giám sát, chế ước lẫn nhau, tạo nên
sự cân bằng về quyền lực giữa các cơ quan công quyền. Mỗi cơ quan được quyền
hoạt động trong lĩnh vực của mình, không có quyền trong lĩnh vực khác, nhưng có
quyền ngăn chặn cơ quan khác. Quyền lực ngăn chặn quyền lực chính là điểm cốt
yếu trong chủ trương phân chia quyền lực. Trong tác phẩm “Tinh thần pháp
luật” Montesquieu cho rằng “Cơ quan lập pháp có hai bộ phận ràng buộc
nhau bằng chức năng ngăn cản bên này đối với bên kia. Cả hai bộ phận đều bị
ràng buộc bởi quyền hành pháp, mà quyền hành pháp thì cũng bị ràng buộc bởi
quyền lập pháp”[3].
Theo ông, cơ quan hành pháp không có quyền thông qua luật. Nhưng có quyền ngăn
chặn lập pháp biểu quyết những đạo luật có hại cho quốc gia... Ngược lại cơ
quan lập pháp có quyền kiểm soát cơ quan hành pháp và khi luật lệ ban hành
không được áp dụng thì cơ quan lập pháp truy tố các cộng sự của nhà vua. Cơ chế
kiềm chế và đối trọng mà học thuyết tam quyền phân lập đưa ra nhằm mục đích
giám sát và ngăn chặn lạm dụng quyền lực. Trong đó mỗi tổ chức sử dụng quyền
lực nhà nước đều có sự độc lập cần thiết, đồng thời có quyền và phương tiện
tương xứng để giám sát hoạt động của các cơ quan khác, tạo thế cân bằng về
quyền lực giữa các cơ quan. Đây chính là cơ sở lý luận để hình thành nguyên tắc
kiềm chế đối trọng trong tổ chức và hoạt động của nhà nước được xác định trong
hiến pháp tư sản. Cả Jonh Locke và Montesquieu đều mong muốn một xã hội tốt
đẹp, trong đó quyền tự do của con người được đề cao, xã hội không phải gánh
chịu những lộng hành của Nhà nước. Và họ chủ yếu kỳ vọng vào sự kiểm soát quyền
lực nhà nước ngay trong hệ thống quyền lực. Là nhà nước mang đậm nét phân quyền
như Mỹ, Hiến pháp Hoa Kỳ quy định Quốc Hội là cơ quan độc quyền lập pháp, Tổng
thống chỉ có thể đề nghị mà không có quyền trình dự án luật trước Quốc hội,
nghĩa là không có sáng quyền lập pháp, nhưng Tổng thống có quyền phê chuẩn hoặc
phủ quyết một dự luật đã thông qua theo một trình tự và giới hạn do luật định,
nhằm kiềm chế bớt sự lạm quyền của Quốc hội. Pháp viện tối cao Hoa Kỳ có quyền
tuyên bố một đạo luật là vô hiệu nếu trái ngược với Hiến pháp Hoa Kỳ,
nhưng không có quyền thay đổi hoặc huỷ bỏ đạo luật đó. Đây chính là giới hạn
quyền lực được đặt ra nhằm kiểm soát quyền lực, tránh lạm quyền.
Có thể nói, ưu điểm quan trọng nhất của học thuyết tam quyền phân lập là tránh
được sự chuyên quyền, độc tài trong thực hiện quyền lực nhà nước. Đánh dấu sự
chuyển biến từ việc sử dụng “quyền lực dã man” trong các xã hội chuyên
chế sang việc thực thi quyền lực văn minh trong xã hội dân chủ. Loại bỏ chế độ
quân chủ chuyên chế, độc tài - mảnh đất tốt cho sự lộng quyền, bức rào cản của
dân chủ và phát triển xã hội. Sự hình thành và phát triển của lý thuyết này gắn
liền với quá trình đấu tranh cho bình đẳng, tự do và tiến bộ xã hội. Lấy pháp
luât làm tối thượng, lấy bảo đảm các quyền tự do công dân làm mục đích cuối
cùng. Không chỉ vậy, với cơ chế kiềm chế và đối trọng, kiểm tra và chế ước lẫn
nhau giữa ba nhánh quyền lực đã loại trừ được nguy cơ tập trung tất cả quyền
lực nhà nước vào tay một cá nhân, nhóm người hay một cơ quan quyền lực duy nhất
nào đó - nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự tha hoá trong quá trình thực thi quyền
lực. Nhờ cơ chế này mà không cơ quan nhà nước nào có thể chi phối hoặc lấn át
hoàn toàn hoạt động của cơ quan khác. Đồng thời không cơ quan nào, tổ chức nào
đứng ngoài hoặc đứng trên pháp luật; nằm ngoài sự kiểm tra, giám sát từ phía cơ
quan nhà nước khác. Như vậy, sự phân chia rành mạch về chức năng và nhân sự
cùng với cơ chế kìm chế, đối trọng có tác dụng vừa hạn chế khả năng lạm quyền,
vừa tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát giác sự lạm quyền, đồng thời đề cao
trách nhiệm cá nhân.
Mặc dù thực tiễn chính trị đã thay đổi nhiều so với thời kỳ học thuyết phân
quyền ra đời và cho dù tinh thần của học thuyết còn những hạn chế nhất định
nhưng học thuyết này vẫn còn nguyên sức sống. Những giá trị mang tính phổ quát
của nó vẫn đang được khai thác và nhân rộng trong tổ chức quyền lực của nhiều
nước, không phân biệt điều kiện kinh tế, văn hoá và chế độ chính trị. Trong
khuôn khổ lý thuyết phân quyền, thực tiễn đã hình thành những chính thể khác
nhau phù hợp với đặc điểm kinh tế, xã hội và truyền thống văn hoá của mỗi nước.
Ở các nước tư bản, các nhánh quyền lực nhà nước được thể chế hoá cao độ. Các cơ
quan lập pháp, hành pháp, tư pháp được chuyên nghiệp hoá rất cao. Cơ chế kiểm
soát quyền lực tỏ rõ tính hiệu quả trong việc hạn chế tình trạng lạm quyền,
chuyên quyền, quan liêu, tham nhũng trong bộ máy nhà nước. Có thể thấy, cho đến
nay, học thuyết phân quyền đã thể hiện và khẳng định những giá trị tiến bộ của
nó. Những giá trị này đã được kiểm chứng trong thực tiễn chính trị hàng trăm
năm ở các nước tư bản phát triển. Đúng như đánh giá của Ph. Ăngghen: “Phân
quyền được xem như là nguyên tắc thiêng liêng và không thể xâm phạm trên thực
tế, về thực chất nó không có gì khác là sự phân công công việc lao động được áp
dụng đối với bộ máy nhà nước nhằm đơn giản hoá và để kiểm tra”[4]
Tổ chức và phân công quyền lực nhà nước ở nước ta trước đổi mới theo nguyên tắc
tập quyền. Trong tư duy chính trị pháp lý và trong các văn kiện chính thức của
Đảng, Nhà nước lúc bấy giờ, không hề tìm thấy các thuật ngữ “phân công, phân
nhiệm một cách rạch ròi ba quyền: lập pháp, hành pháp và tư pháp”. Dưới ánh
sáng đổi mới, một mặt Đảng và nhà nước ta khẳng định quyền lực nhà nước là
thống nhất, nhưng mặt khác có sự kế thừa những nhân tố tiến bộ trong tổ chức và
phân công quyền lực của nhân loại. Đặc biệt là những hạt nhân hợp lý, những giá
trị tích cực trong học thuyết tam quyền phân lập. Nghị quyết Đại Hội Đảng X
khẳng định: “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp
giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp”[5].
Quan điểm này cũng được quy định tại Điều 2, Hiến pháp 1992 (sửa đổi năm 2001).
Quyền lực nhà nước là thống nhất không có nghĩa là quyền lực chỉ do một số
người nào đó nắm giữ mà đó là sự tập trung, thống nhất quyền lực trong tay nhân
dân thông qua người đại diện của họ, nhằm đảm bảo tính thống nhất, nhất quán trong
tổ chức cũng như sử dụng quyền lực. Sự tập trung không những không đối lập với
việc phân công, phân nhiệm, mà ngược lại đòi hỏi phân định rõ ràng về chức
năng, nhiệm vụ của bộ máy thực hiện quyền lực. Sự phân định càng thiếu rõ ràng
thì việc kiểm soát quyền lực càng kém cả về hiệu lực lẫn hiệu quả.
Có thể nói, việc thừa nhận phân công và phân nhiệm trong tổ chức
và thực hiện quyền lực nhà nước là một bước tiến về nhận thức lý luận. Cả lý
luận và thực tiễn đều đặt ra yêu cầu tất yếu rằng, giữa các cơ quan nhà nước
cần có sự phân công chuyên môn hoá lao động quyền lực, đảm bảo sự độc lập trong
tổ chức của các cơ quan và sự phối hợp giữa chúng, nhưng đồng thời giữa các cơ
quan cần có sự kiểm soát, kiềm chế, giám sát lẫn nhau. Nắm vững nguyên tắc này
có ý nghĩa chỉ đạo hoạt động thực tiễn về tổ chức và phân công quyền lực nhà
nước trong bộ máy nhà nước.
Đảng và nhà nước ta đã chủ trương phân công và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ
quan nhà nước trong việc thực hiện ba quyền. Điều đó có nghĩa là trong quá
trình cải cách và xây dựng bộ máy nhà nước phải coi trọng việc xác định rõ chức
năng, quyền hạn và nhiệm vụ của các cơ quan trong việc thực hiện ba quyền này
để hạn chế sự lạm quyền, lộng quyền, chồng chéo và cản trở công việc của nhau.
Tuy nhiên không phải vì phân công, phân nhiệm rạch ròi mà các cơ quan nhà nước
quay lưng lại với nhau, không phối hợp với nhau, chống đối nhau. Chính nhờ vào
quan điểm này mà bộ máy nhà nước ta qua cải cách và đổi mới ngày càng được củng
cố và hoàn thiện hơn về tổ chức và hoạt động quyền lực, tránh được tình trạng
như: lẫn lộn chức năng và quyền hạn giữa lập pháp, hành pháp và tư pháp; dựa
dẫm và ỷ lại nhau trong việc thực hiện quyền lực nhà nước; nể nang, xuê xoa
trong giám sát, kiểm sát, thanh tra việc thực hiện chức năng và quyền hạn của
mỗi bên.
Tuy nhiên có thể thấy rằng, những hạt nhân hợp lý của học thuyết tam quyền phân
lập vẫn chưa được chúng ta khai thác đầy đủ. Việc phân công quyền lực giữa các
cơ quan nhà nước còn nhiều bất cập. Chính sự phân công không rõ ràng về thẩm
quyền đã dẫn đến sự chồng chéo giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp
trong việc thực thi quyền lực. Làm cho cơ cấu quyền lực không phát huy được hết
hiệu quả. Bên cạnh đó, chúng ta cũng chưa kế thừa và thiết lập được cơ chế kiểm
soát quyền lực hữu hiệu ngay trong bộ máy nhà nước, mà đó mới được coi là nội
dung cốt lõi của học thuyết tam quyền phân lập.
Do vậy, việc vận dụng học thuyết tam quyền phân lập trong tổ chức và thực thi
quyền lực nhà nước ta cần tập trung vào các nội dung cơ bản sau:
- Tiến hành sự phân công, phân nhiệm rạch ròi về mặt chức năng,
thẩm quyền giữa các nhánh quyền lực và thể chế hoá cụ thể, rõ ràng trong Hiến
pháp nhằm tạo ra sự ổn định trong hoạt động của bộ máy nhà nước.
- Cần cầu thị học tập cơ chế kiểm soát quyền lực mà học thuyết
tam quyền phân lập đã đưa ra và vận dụng sáng tạo trong điều kiện một đảng lãnh
đạo, nhằm thiết lập các ràng buộc bên trong đối với quyền lực.
- Nhân sự phải được chuyên môn hoá cao độ mà trước hết là hạn
chế tối đa sự kiêm nhiệm ở các bộ phận quyền lực khác nhau.
Có thể khẳng định rằng, cho đến nay việc nghiên cứu học thuyết
tam quyền phân lập, tiếp thu những hạt nhân hợp lý của học thuyết này vẫn có ý
nghĩa quan trọng đối với quá trình đổi mới hệ thống chính trị, cải cách bộ máy
nhà nước ta theo hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì
dân. Khai thác nhân tố hợp lý của học thuyết này đòi hỏi phải làm rõ tính độc
lập, chuyên nghiệp trong hoạt động của các cơ quan nhà nước, có cơ chế kiểm soát
quyền lực hiệu quả nhưng vẫn đảm bảo quyền lực nhà nước là thống nhất, đề cao
trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trước cơ quan quyền lực của nhân dân. Đó
chính là những vấn đề thuộc về bản chất của nhà nước pháp quyền mà chúng ta
đang xây dựng.
Chương
3
Nhà nước pháp quyền XHCN
Chủ tịch Hồ Chí
Minh nhận rõ các thể chế quản lý nhà nước thì quản lý theo Nhân trị, Đức trị
lạc hậu hơn Pháp trị. Pháp trị tiến bộ hơn Nhân trị, Đức trị, nhưng cả hai nếu
không có con người có tài có đức để quản lý nhà nước thì dù có dương cao ngọn
cờ "Dân chủ", "Nhân quyền", "Pháp quyền", Hiến pháp,
Pháp luật, xây dựng công phu, tốn phí nhiều thời gian tiền của nhưng vẫn là
trên giấy tờ. Dù ngôn từ trong các văn bản đó rất hay, hấp dẫn, nhưng cũng chỉ
giải quyết được phần nào mà thôi. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận rõ thực tế đó, nên
trong lý luận của Người, Người đặc biệt quan tâm đào tạo nhân tài, giáo dục
nâng cao dân trí, để có người cầm quyền có đủ đức tài quản lý nhà nước, người
dân có đủ trình độ trí tuệ để nhìn rõ và kiểm tra giám sát những hành động của
người cầm quyền, đòi quyền lợi của mình theo pháp luật, có như vậy thì Chế độ
Dân chủ mới được thực hiện đầy đủ.
Lý luận Hồ Chí
Minh về mô hình quản lý một Nhà nước Dân chủ đã thể hiện rõ trong Hiến pháp của
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1946. Nội dung chủ yếu là mọi người dân phải
bình đẳng trong xã hội theo Hiến pháp và Luật pháp. Không có đặc quyền đặc lợi
cho bất cứ ai. Mục đích cao nhất là người dân có cơm ăn, áo mặc, được học hành;
có công việc làm để tự nuôi sống mình và đóng góp cho xã hội. Thực hiện một xã
hội không còn người nghèo, chỉ có người có cuộc sống trung bình trở lên, phân
phối thu nhập trong xã hội phù hợp với người tạo ra của cải xã hội nhiều hay
ít. Làm nhiều hiệu quả nhiều, được hưởng nhiều. Còn những người không còn sức
lao động, hoặc không có khả năng lao động... thì chính sách phúc lợi xã hội giải
quyết với mức sống trung bình. Những vấn đề này phải được nêu cụ thể rõ ràng,
ngắn gọn, dễ hiểu trong pháp luật, để người cầm quyền tổ chức thực hiện và
người dân theo dõi sự thực thi của người cầm quyền.
Trong chế độ Dân
chủ và nhà nước Pháp quyền, khó nhất là phân phối lợi ích cho các giai tầng
trong xã hội . Chủ tịch Hồ Chí Minh với sự từng trải trong cuộc sống và trí tuệ
thông minh hiếm có đã hiểu rõ sự phát triển tư duy con người, tìm ra một cơ chế
hữu hiệu giải quyết xung đột quyền lợi giữa các tầng lớp nhân dân, thực hiện
công bằng trong phân phối vật chất. Người xác định muốn làm tốt việc này phải
chia làm 2 bước:
Bước một: Tập
trung mọi khả năng của quốc gia, xóa hết người nghèo trong xã hội. Vì trong
thực tế, mọi người sinh ra sợ nhất nghèo khổ, mà mỗi người sinh ra không thể
lựa chọn "đầu thai" vào ai thì được sung sướng? Và ngay cả khi có
cuộc sống sung sướng rồi lại gặp "tai biến" của thiên nhiên hoặc do
con người gây ra làm cho nghèo khó, nó diễn ra hàng ngày, không ai có thể biết
trước được, có thể hôm nay giầu, ngày mai trở nên nghèo hoặc ngược lại. Nên cần
phải làm ngay, làm sớm xây dựng xã hội chỉ còn tầng lớp có đời sống trung bình
trở lên...
Bước hai: Phân
phối lợi ích hợp lý cho mọi tầng lớp trong xã hội theo Hiến định và Pháp định.
Việc này phải làm từng bước, quy định cụ thể rõ ràng, mà khó nhất là phân phối
lợi ích cho giai cấp nắm quyền. Muốn vậy, phải thực hiện đầy đủ Lý luận Hồ Chí
Minh về đào tạo tuyển chọn người tinh hoa của dân tộc, gương mẫu để giao quản
lý nhà nước. Người đó phải gương mẫu cả trong sinh hoạt, giao tiếp hàng ngày để
làm gương cho người dân và đồng nghiệp dưới quyền noi theo. Đó là điều khó nhất
của mọi xã hội, nhất là làm sao chọn được người tài liên tục quản lý đất nước,
phá bỏ tư duy lỗi thời cho rằng: "có thịnh có suy" để che dấu sự suy
thoái biến chất của mình.
Thực hiện mô hình
quản lý nhà nước Dân chủ theo Lý luận Hồ Chí Minh phải bảo đảm cho được 4 yếu
tố quyết định sau đây:
1- Có đội ngũ cán
bộ có đủ tài, đủ đức được chọn lọc dân chủ vào cơ quan quản lý nhà nước từ
Trung ương đến cơ sở. (Người cầm quyền phải là tinh hoa của dân tộc)
2- Giáo dục nâng
cao dân trí để người dân có đủ trí tuệ hiểu về quyền và lợi của mình, để giám
sát việc thi hành pháp luật của người cầm quyền, biết đòi quyền lợi của mình
một cách hợp pháp và làm theo pháp luật.
3- Giải quyết hết
số người nghèo trong xã hội, nếu còn người nghèo là còn một "lỗ thủng” về
thực thi pháp luật, nghèo nghĩa là không được học hành, không có việc làm,
không đủ ăn... không có trí tuệ để kiểm tra người cầm quyền. Họ là người không
được hưởng Dân chủ, Tự do, Hạnh phúc thật sự trong cuộc sống.
4- Tổ chức
sản xuất thật tốt để mọi người đến tuổi lao động đều có việc làm, không thất
nghiệp.
No comments:
Post a Comment